Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Bùi-Thị-Hý và du lịch Làng nghề gốm Chu Đậu








Dẫn nhập

Hải Dương, có một nhà văn tả nơi đó như là” một vùng nông thôn nhỏ nằm giữa hai thành phố lớn” , Hải Phòng và Hà Nội. Thuộc đồng bằng sông Hồng, nơi chiêm trũng này được ôm ấp bởi các con sông lớn, sông Thái Bình , sông Thương và phân nhánh của nó; sông Kinh Thày, Kinh Môn, Ranh, Kẻ Sặt, Tứ Kỳ… Thiên nhiên ưu đãi lại 3 mặt giáp ranh với các nền văn hóa/ đô thị lớn , hiện nay là trung tâm vùng trọng điểm phát triển kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Hải Dương được biết đến không chỉ bởi các đặc sản như bánh đậu xanh( Hải Dương) , bánh gai, bánh khảo  ( Ninh Giang), , vải thiều (Thanh Hà)... mà còn nổi tiếng với những làng nghề chuyên làm đồ trang sức vàng ,bạc  ( Bình Giang), thợ dệt sống ở Đan Loan) , quạt giấy Đào Xá ( Hải Dương) ,  da giầy ở Trúc Lâm, Văn Lâm ( Hải Dương) …
Là một tỉnh có nhiều làng nghề thủ công truyền thống đặc sắc , Nhưng hơn hết , và nổi tiếng, có lẽ nên kể đến tên làng gốm sứ Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, Huyện Nam Sách - đã nổi tiếng trên thế giới từ hơn 500 năm nay. Các sản phẩm gốm Chu Đậu đang được lưu giữ tại nhiều bảo tàng quốc gia trên thế giới như Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Bỉ, Nhật Bản, Hà Lan… và trong sưu tập cá nhân của nhiều nước trên thế giới.
Hưởng ứng phong trào  Ngày 27/4, tỉnh Hải Dương  tổ chức “Khai mạc chương trình du lịch làng gốm cổ Chu Đậu” tại thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, một trong hai hoạt động lớn của Hải Dương nhằm hưởng ứng Năm Du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng-Hải Phòng 2013.  Học trò, quê ở Hải Dương, mong muốn viết về quê hương đã lâu , nay xin góp một góc nhìn, bàn thêm về văn hóa du lịch Chu Đậu.






CHƯƠNG I. MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG

I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1.1 Xu hướng

Có thể bắt đầu câu chuyện từ góc nhìn hiện sinh ( existentialism) chăng ? Với hai tâm điểm chính là chủ thể tính và nhân vị tự do, không coi con người là một sự vật của toàn bộ vũ trụ, mà như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy quan điểm của mỗi người. Tự do ở đây có nghĩa là dám là mình, tự do chọn lấy một lối sống riêng , không bắt chước người khác.  ( Đặng Thân: 2012) … Và con người muốn vượt khỏi cuộc sống thì phải vượt lên trên mình, thoát khỏi ràng buộc về không gian, thời gian. 

Khi nhật ký thời chiến đã gần như bão hòa , đã thuộc vào danh sách “nằm” như nhiều người nói, (http://vietbao.vn/Van-hoa/Sach-nhat-ky-thoi-chien-da-bao-hoa/65045639/181/  )cộng thêm ảnh hưởng của hiện sinh ngày càng mạnh mẽ ở Việt Nam, thì xu hướng người du lịch muốn đi và ghi lại nhật ký hành trình đã kịp thời “đứng”  lên và bước rất nhanh.  Du ký Việt Nam ( 2007), , và lan rộng trong năm 2013 là những “ John đi tìm Hùng “ – Jonh Hùng , Tôi là một con lừa- Nguyễn Phương Mai gây “sốt” trên thị trường sách Việt. Thậm chí có cả bút ký của người ngoại quốc,  bloger Joe- Ngược chiều vun vút ( 2012 )

Kế đó hẳn là trào lưu đi du lịch của nước ngoài, được xem như là một trong những cách sống của những người ưa phiêu lưu, tìm tòi và thành đạt,  , mà điển hình một câu nói của người Israel trong cuốn “Quốc Gia Khởi Nghiệp”:” Đi thật xa, ở lại lâu, nhìn thật kỹ “.
Và hơn bao giờ hết , thế giới tiếp tục ngày càng phẳng, nhu cầu đi lại tăng chóng mặt khi phương tiện vận chuyển trở nên dễ dàng hơn. Du lịch Việt Nam dù muốn hay không , cũng phải hội nhập.

I.1.2 Thao tác hóa khái niệm
… Xin trở lại với du lịch làng nghề truyền thống và các khái niệm.
Thầy Vượng đã thử đưa ra một khái niệm trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống việt nam” tháng 8/1996. ( trang 38-39 ), Sau đó trong Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm,( Trần Quốc Vượng : 2000 tr172 ), ông “ thử đưa ra một khái niệm về làng nghề” , mà theo nhiều nhà khoa học nhận định, thì thực chất đây là khái niệm đầy đủ nhất từ trước đến nay
“ Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác (như đan lát, gốm sứ, làm tương.).. song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả... cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định ( “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”) , sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh, với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài
Làng nghề thủ công là một loại tài nguyên nhân văn quan trọng , gồm các loại hình du lịch di tích lịch sử- văn hóa, lễ hội/ festival, làng nghề, thờ cúng tổ nghề, ẩm thực/ đặc sản địa phương,
Ngoài ra, đi kèm với nó các hoạt động tín ngưỡng khác ở làng xã, Xem khu lấy nguyên liệu, trình diễn quy trình làm sản phẩm, và giao lưu với các nghệ nhân, giám đốc,; đặc biệt là các “ độc bản” có một không hai, các tác phẩm của nghệ sĩ , thuộc một trong số những điều cần được giới thiệu tỉ mỉ
Từ đó có thể thấy Du lịch làng nghề là loại hình du lịch văn hoá tổng hợp đưa du khách tới tham quan các Làng nghề truyền thống Việt Nam. Tour du lịch làng nghề là dịp được khám phá, tìm hiểu quy trình kỹ thuật của nghề truyền thống, thâm nhập cuộc sống cộng đồng với những phong tục, tập quán và các nghi thức phường, hội riêng của các làng nghề truyền thống trên khắp miền đất nước












I.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Sau khi đề án Khôi phục và phát triển sản xuất và du lịch làng nghề gốm Chu Đậu cùng một số các nghiên cứu khoa học khác của Sở Công thương Hải Dương được thực hiện năm 2004, xí nghiệp gốm Chu Đậu đã chính thức đón những lượt khách thăm quan đầu tiên. Số lượng khách du lịch không ngừng tăng qua các năm, thúc đẩy sự tăng trưởng nguồn thu cho xí nghiệp gốm Chu Đậu.
  
Bảng 1. Lượng khách du lịch đến làng gốm Chu Đậu (2005 - 2009)
                        Năm          
Khách                        
2005
2006
2007
2008
2009
Tốc độ tăng TB %/năm)
Quốc tế
509
749
933
1002
905
17,4
Nội địa
1.387
3.869
4.651
5.026
5.103
52,2
Tổng số
1.896
4.618
5.584
6.028
6.008
43,0
   Nguồn: Xí nghiệp gốm Chu Đậu – Hapro Hà Nội


Số lượng khách
             Chu Đậu
1-9 khách
50.000đ
10-19 khách
30.000đ
20 khách trở lên
20.000đ
Để phát huy sự phát triển của nghề gắn liền với du lịch, công ty Hapro tích cực liên kết với một số tour của các công ty Lữ Hành như tour
     B.2: Nguồn :Hiệp hôi Du Lịch Hải Dương

Hà Nội -  Hải Phòng – Hạ Long
Hà Nội – Hưng Yên – Hải Dương – Hải Phòng
Hà Nội – Bắc Ninh – Hải Dương – Quảng Ninh và các tour du lịch nội tỉnh.
11/2012 Hiệp hội du lịch tỉnh Hải Dương mở Tuyến du lịch Hà Nội – Nam Cường- Làng gốm Chu Đậu ( thăm quan khu du lịch từ 9:00 đến 10:30 )
2/ 2013 CHƯƠNG TRÌNH LỄ HỘI TẾT, Tuyến HÀ NỘI – ĐỀN ĐÔ – ĐỀN CHU VĂN AN - GỐM CHU ĐẬU – ĐỀN NGUYÊN PHI Ỷ LAN (Thời gian thăm Chu Đậu khoảng từ 14:00-15:30) trọn gói 250.000

Với 1 tiếng rưỡi đồng hồ,nói là khách đến du lịch nhưng thực chất mới chỉ là thăm quan và mua gốm, hầu như chưa có hoạt động nào thêm để thu hút khách ở lại với  thời gian dài. Rõ ràng, sự phát triển du lịch của Chu Đậu hiên nay chủ yếu là do sức hút của tiếng tăm và vẻ đẹp gốm Chu Đậu, chứ chưa xuất phát từ một làng nghề cổ truyền

Xí nghiệp Gốm Chu Đậu còn thực hiện nhiều chương trình chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Trong năm 2009, Đài truyền hình Việt Nam phát sóng bộ phim truyền hình Cổ Vật vào thời gian giờ vàng trên VTV1.
Theo điều tra, tỉ lệ người biết đến gốm Chu Đậu qua các hình thức quảng cáo như sau:

Hình thức
Giới thiệu
Quảng cáo báo chí
Website
Tin khác
Tỉ lệ (%)
84,29
2,14
7,14
6,34
B.3 Nguồn : Luận văn phát triển du lịch làng nghề gốm Chu Đậu – 2009
Số lượng khách nước ngoài cũng được điều tra, tuy còn hạn chế nhưng cũng phần nào phản ánh được thực tế là khách nước ngoài còn ít biết đến gốm Chu Đậu. Những người am hiểu và yêu thích gốm thì rất yêu thích gốm Chu Đậu, nhưng số lượng này vẫn  rất ít. Đa phần khách được hỏi vẫn trả lời về gốm Bát Tràng. Rõ ràng, mặc dù là dòng gốm cao cấp, nhưng Chu Đậu vẫn chưa quảng bá được hình ảnh của mình.

Tiêu chí
Tiêu chí
Số khách đã từng đến Chu Đậu (ít nhất 1 lần)
Số khách muốn tham gia tour Chu Đậu
Tổng số khách được điều tra
Số khách biết đến gốm Chu Đậu
Số khách chưa biết đến gốm Chu Đậu
Số người
45
12
33
8
33
Tỉ lệ(%)
100
    26,7
73,3

   17,9
73,3
B.4 Số khách nước ngoài được điều tra . Nguồn : Luận văn phát triển du lịch làng nghề gốm Chu Đậu – 2009 .



Chương II. Bùi-Thị-Hý đối với văn hóa du lịch Chu Đậu , một cách nhìn từ góc độ lịch sử.

VnMedia) –Theo Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Phó giám đốc Xí nghiệp Gốm Chu Đậu cho biết, gốm Chu Đậu được tìm thấy từ 2 nguồn chính, đó là chiếc bình gốm cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ và ở lần phát hiện 5 con tàu đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm, Hội An. 

II.1 Chiếc bình cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ

II.1.1 "thái hòa bát niên, nam sách châu, tượng nhân bùi thị hý bút"
(Một ngẫu nhiên rất riêng, bởi ở Việt Nam, tất cả các nền văn hóa đều bắt nguồn từ những sự tình cờ của những người nông dân đầu trần chân đất. Câu Chuyện này lại bắt đầu từ lá thư của ông Makoto Anabuki, Bí thư Văn hóa Đại sứ quán Nhật Bản gửi cho Bí thư Tỉnh ủy Hải Hưng (cũ) nhờ tìm xuất xứ một chiếc bình gốm .
Theo lời ông Makoto, năm 1980, khi công tác ở Thổ Nhĩ Kỳ, đã được chiêm ngưỡng một bình gốm được coi là quốc bảo tại Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul. Chiếc bình được mua bảo hiểm 1 triệu USD. Trên lớp tráng xanh da trời và trắng của bình gốm tinh xảo đó có khắc 13 chữ Hán: "Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút" (Dịch : Năm Thái Hòa thứ 8 (1450), tại châu Nam Sách, nghệ nhân Bùi Thị Hý viết/vẽ/tạo).
Chiếc lọ hoa lam này sau đó đã trở thành tiêu bản mẫu để làm rõ những đồ gốm men hoa lam khác không ghi niên đại, là một điểm chỉ dẫn sự tìm kiếm về trung tâm làm gốm men Chu Đậu thời phong kiến của khảo cổ học Việt Nam.
Ông Tăng Bá Hoành đã viết bài "Quá trình phát hiện, nghiên cứu, phát huy gốm Chu Ðậu" đăng trên tạp chí "Khoa học và ứng dụng" của "Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hải Dương" số 2-2005,
Tuy nhiên , bởi viết bằng chữ Hán, không chấm phẩy, không phân biệt chữ viết hoa và chữ viết thường. Cho nên chữ “Bùi Thị hý bút” có nhiều cách dịch :
(i)    (Một người thuộc )Họ nhà- ( thị tộc) - Bùi vẽ chơi  ?  thị = họ”
Trong trường hợp tôn xưng lại là khác như Mạc Thị, Viên Thị hay là triều đình nhà Nguyễn 阮氏王朝 (Nguyễn Thị Vương Triều) là do tôn tộc hệ thống xưng hiệu ở ngoài gọi vô. Mạc Thị trong trường hợp trên là xưng hiệu. 
(I.ii)Đích thị (là ) ông Bùi vẽ chơi  ?
TS Nguyễn Đình Chiến - Bảo tàng Lịch sử Việt Nam: “Về chuyện giải mã mười mấy chữ Hán trên chiếc bình hoa lam tại Thổ Nhĩ Kỳ, tôi vẫn nghiêng về cắt nghĩa chữ Bùi Thị Hý nghĩa là ông Bùi nào đó vẽ chơi chứ không phải Bùi Thị Hý là một nghệ nhân nữ có tên Bùi Thị Hý".
(iii) Nghệ nhân Bùi Thị Hý vẽ/viết/tạo …?

Giả phương án (iii) là đúng, cũng có thể còn xảy ra 2 trường hợp khác.
-Giả như người thợ đã làm tác phẩm đó xong xuôi, và bà Bùi Thị Hý/ Ông Bùi hứng lên ghi vào ?
- Vì không biết chữ, nhờ người viết hộ ?
- Vì chữ và nét vẽ cũng không đẹp. Nên nhờ người viết/vẽ hộ, lấy tên mình để mang đi tặng ai đó, thậm chí treo trong nhà cho “ Mr. Oai” ?
Chưa kể chữ “Thái” trong bình gốm hoa lam ở Thổ Nhĩ Kỳ mất dấu chấm dưới chữ “Ðại” ( thái = đi + du chm dưới - Đi () hay Thái ()) đã làm phiền lòng nhiều học giả. Nay niên hiệu Thái Hòa ở đây cũng được khẳng định, các học giả không còn bận tâm về Thái Hòa hay Ðại Hòa nữa. (trong bài "Ðại hay Thái: Một cái chấm làm thay đổi lịch-sử nhà Lê và quyết-định lịch-sử đồ gốm Việt Nam", đăng trong báo Thế Kỷ 21 #141, số xuân Tân Tỵ - tháng giêng 2001 )
http://www.covattinhhoa.com/diendan/picture.php?albumid=145&pictureid=1220


H.1 Bình Tokapi Saray - với câu: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” Hình từ: Vietnamese Ceramics, a separate tradition của Joh Guy và John Stevenson














II.2 Bà cô tổ dòng họ Bùi.
II.2.1  Các cứ liệu, hiện vật của Bùi Văn Lợi
Ngày 16/5/2007, anh Lợi tìm được (i)con nghê ở lò gốm cổ, nơi mà gia phả nói là do Đặng Sĩ xây dựng năm Thái Hòa thập niên (1452), cao 22cm, dài 27cm, đế rộng 6,5cm, phía đuôi có chữ viết, mang cho các nhà sử học nghiên cứu.
Hình dáng cũng như chất liệu của con nghê này không có gì lạ vì có một số hiện vật tương tự ở những hố khai quật tại Chu Đậu và làng Cậy, điều quan trọng là 2 dòng chữ: "Quang Thuận nhất niên, Quang Ánh trang, Bùi Thị Hý tạo", có nghĩa hiện vật do Bùi Thị Hý, ở trang Quang Ánh, tạo vào năm Quang Thuận thứ nhất (1460).
Tại hội thảo do Liên hip các hội khoa học và k thut tnh Hải Dương phối hợp vi huyện Gia Lộc tổ chc vào ngày 20/6/2009, đại diện dòng h Bùi, các n sử học và khảo cổ học đưa ra nhiều chứng cứ, hiện vật liên quan đến nhân vật lch sử thú vị này.

Trong số các hiện vật, có (ii)chiếc la bàn bng đá( Ngày 14.4.2009, ông Lợi còn cung cấp cho ông Hoành một khối đá nhỏ có chữ Hán, lẫn trong đống đá tảng đầu nhà... đơn giản đến khó tin... Di vật bỗng dưng tìm lại được sau... 500 năm mà... ở ngay chính đầu nhà.) trên đó khắc:Châm bàn chu hi khứ Bùi Th Hý” …
H.2 La bàn đi biển của bà Bùi Thị Hý


…và (iii) gia ph do chính phu quân của ông Đng Phúc lập bia gm 379 chữ ghi rằng:
Bùi Thị Hý, ngưi vợ k tài, hiệu Vọng Nguyệt, con gái trưng của quan mã Bùi Đình Nghĩa, cháu ba đi lão ng Bùi Quốc Hưng.
Phu nhân sinh năm Canh (1420), thời  Bình  Đnh Vương, mất ngày 12 tháng 8 năm Cảnh thống K mùi (1499). Phu nhân   tài văn chương, chữ viết đẹp, li k tài về hoạ, từng cải trang đi thi Đi khoa đến k thi thứ ba, khoa Nhâm Tuất, năm đại bảo thứ ba (1442), bị  quan trưng (phát giác) k luật, đuổi khỏi tng thi. Sau bèn xuất giá, cùng đại gia phu quân Đng Sỹ, làm nghề nung sành sứ, tại trang Chu, châu Nam Sách,  chế đồ gốm cống triu đình đương thời xuất cho tơng nhân nhiều c  như: Nhật Bản, Trung Quốc, phương Tây. Sau Đặng Sỹ cùng những ngưi làm thuê gặp nạn, chết biển Đông. Phu nhân tái giá, lấy đại gia Đng Phúc,  ngưi Trang Chu.
Phu nhân một trang nữ tài võ, thông văn, làm chủ tơng đoàn đi Nhật Bản,Trung Quốc, phương Tây để buôn bán đặc phẩm gm sứ. Thật buồn thay, phu nhân k tài làm bình gốm mà lại không con…”.
Nhưng…
Khi đưa chiếc “ la bàn” qua Nhật để kiểm chứng ( Vì người Nhật có lịch sử đi biển lâu đời, có các công cụ khoa học để kiểm tra và có mỗi quan hệ tốt với Việt Nam) thì

Và…
Ông Tăng Bá Hoành đã dịch tóm tắt nội dung gia phả cùng với hiện trạng của gia phả như họ Bùi như sau: (báo Hải Dương cuối tuần, số 304 ngày 22-6-2006) với bài: "Dấu hỏi qua 20 năm về gốm Chu Ðậu đã được trả lời". )
 Hiện nay hai cuốn gia phả của họ Bùi thôn Quang Tiền, xã Ðồng Quang vẫn còn lưu giữ. Mặc dù cuốn thứ nhất sao lại đã gần 175 năm, vải đã mục, chữ đã mờ, cuốn thứ hai sao lại cách đây 74 năm viết trên giấy bản đã ố vàng nhưng chữ vẫn còn đọc dịch được ” Căn cứ vào tấm bia mộ chí của bà Bùi Thị Hý khắc dựng ngày 10/10 năm Cảnh Thống (Nhâm Tuất- 1502), Cuốn thứ nhất sao y bản cổ năm Nhâm Thìn (1832), viết bằng chữ Hán trên nền vải . cuốn thứ hai được lí trưởng Bùi Đức Nhuận  sao tóm tắt viết bằng chữ Hán trên giấy bản năm Bảo Đại (Nhâm Thân -1932)tức 100 năm sau

 Ngày 10.1.2009, hậu duệ bà Hý đào tìm, phát hiện một số vật yểm và viên gạch đất nung (iv)  màu hồng nhạt, nhẹ lửa, mẻ một góc có ghi những thông tin quan trọng về mộ chí của bà Bùi Thị Hý.
Mặt một nói nơi để mộ, dịch: “ Mộ Tổ cô ban đầu táng tại Gò Thổ Thư, nhìn về hướng bắc. Tổ tiên truyền lại rằng, hậu duệ của đại thương gia Trịnh Hòa, triều Minh, niên hiệu Thiên Thuận (1457 - 1464), là bạn nữ, tặng Tổ cô một chiếc chén sứ quý. Khi Tổ cô qua đời, chôn theo chiếc chén sứ gia bảo. Sau có bọn trộm đào lấy hết. Lại gặp giặc phá hủy. Mộ được chuyển đến khu đất Rồng. Cấm tuyệt đối mọi người trong dòng họ vi phạm lời truyền (của tiền nhân). Vị , Nhuận, Cần (tên trưởng 3 chi họ đương thời).

Có nghĩa là Mộ đã được di chuyển 2 lần, 1 lần bị đào trộm, và một lần Do chiến tranh. Các di vật bị lấy cắp, những hiện vật bị đánh tráo, thay đổi. Gia phả đã qua hai lần sao đi chép lại, mà “tam sao thất bản” , chưa kể người viết lại chưa hiểu hết dụng ý của  thời đại mà viết theo thời đại của mình. Như vậy, bản thảo không phải là “bản gốc”, mà mộ tìm được của bà cũng không phải là “mộ gốc”

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgRYZqGquJYPl9zJnvFcnPlUCYR5p3FZZcUEFE6pIsPv85oi0-IbBq1uxbiHHhc39680ElZn8rKOVv3M-c9NCHscikrMFchJYffGDCDXVvnZY-V4SZXVV-8X1HFtrV3BEWSyhK_rsUhy0M/s640/gach.jpgNgày 9/9 năm Kỷ Sửu (tức 26/10/2009), dòng họ Bùi khởi công xây mộ cho bà cô tổ. Đến khoảng 12 giờ trưa thì tìm thấy mộ phần của bà Bùi Thị Hý cạnh nơi tìm được bia mộ chí.
Hòn gạch đậy trên mộ được mang về Bảo tàng Hải Dương có ghi "Tẫn cốt tổ cô Bùi Thị Hý nội bình đồng Vọng Nguyệt bảo kiếm" (Dịch: Tro xương tổ cô Bùi Thị Hý trong bình cùng (II.2.v)thanh kiếm của bà - Vọng Nguyệt là tên hiệu của bà Hý). ( H.3)


H.3 Hòn gạch đậy trên mộ































II.2.2 Từ “dưới đất chui lên” ?/!

Như vậy, Bà Hý sinh ra trong gia đình dòng dõi, tài năng
Về văn học thì bà giả trai đi thi đến tam trường. Về nghệ thuật thì bà vẽ giỏi viết đẹp. Về buôn bán thì bà là "đại gia". Mộ bà có “ chén sứ gia bảo”, lại thêm "bảo kiếm". Thế vẫn chưa đủ, vẫn còn! Bà đi biển, bà đích thân có chiếc la bàn!.

(i)Thứ nhất là về con rồng (có báo ghi là con nghê) có ghi tên bà. “光順一年 光映庄裴氏戲造 "Quang Thuận nhất niên Quang Ánh Trang, Bùi Thị Hý tạo". Quang Thuận là niên hiệu đầu tiên thời vua Lê Thánh Tông, Quang Thuận nhất niên là năm 1460. Năm bà Hý 40 tuổi.Năm đầu người ta dùng chữ "."nguyên niên" (元年) hay "sơ" (
Thí dụ "Chính Hoà Nguyên Niên": năm Chính Hòa thứ nhất. "Quang Trung Sơ": Quang Trung năm thứ nhất. Riêng năm đầu niên hiệu như ở một chân đèn thời nhà Mạc thì ghi:
延成萬[]年之初三月三十日
"Diên Thành vạn vạn niên chi SƠ tam nguyệt tam thập nhật" ( tức 30/3 DiênThành năm thứ nhất (1578) ). [ Cẩm Nang Đồ Gốm VN có Minh Văn, Nguyễn Đình Chiến, VBTLSVN, Hà Nội 1999]
Người xưa không dùng "nhất niên" cho năm đầu tiên của niên hiệu.
Ta chẳng có nghiên mực, quyển sách cổ nào có tên Nguyễn Du, Lê Quý Đôn v.v. trên đó cả. Sách cổ có "tung tích" như của cụ Cao Xuân Dục thì ghi là "Long Cương Thư Viện" chứ nào viết thẳng là "Cao Xuân Dục"!

( ii)Cứ cho rằng bà đi biển (như đi thăm dò thị trường chẳng hạn) thì vị tất bà đã phải tự lái tàu! Chuyện đó có thuyền trưởng họ lo! Chuyện đi biển là chuyện "chuyên nghiệp", phải biết địa lý, xem sao, biết luồng nước, con gió, cảng nông sâu, biết điều khiển thủy thủ, ... đủ cả.
(iii) Nếu bà có cả "Bảo Kiếm" thì lại quả thật là lạ thưòng! Đúc kiếm vốn chẳng phải là mặt mạnh của truyền thống trọng văn khinh võ Việt Nam.
Có đào được mộ của các quan võ cũng chẳng thấy "bảo kiếm" nào chôn kèm.


H4. “Kiếm báu” trên tay ông Bùi Văn Lợi


(iv) Ở nước ta chuyện khắc tên "tục" trên vật dụng thì theo chỗ tôi hiểu là chưa từng có hoặc nếu có thì quả thực là hi hữu.


Qua những cứ liệu xứ người, và cả của “ao nhà”, tôi cũng tự hỏi :
* Tại sao không có bất cứ hiện vật nào được công bố dựa trên phương pháp niên đại tuyệt đối ( C14, ASM...) . mà tất cả đều được dựa trên phương pháp xác định niên đại tương đối và suy đoán qua chữ Hán của ông Tăng Bá Hoành ?

** Thông thường, trong các gia phả thì vị thế người phụ nữ ít đưọc xem trọng. Trong cách gọi ngoài đời sống,chỉ có tên đàn ông, còn vợ thì phần lớn chỉ nêu tên, hoặc gọi bằng họ chồng, lắm khi khuyết cả họ. phong tục này đến nay ở Nam Sách- Hải Dương vẫn còn.
Người phụ nữ thời xưa cũng không tự xưng. Nếu mà đã xưng rành mạch về họ tên thì câu trên nó cần có thêm chữ “ chi” . Mặt khác, giả dụ như cái la bàn thực là của bà,cả con rồng và bình cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ... thì vị tất bà đã khắc tên mình trên đó, mà là tên "tục" chứ không phải như "Đặng Phu Nhân" chẳng hạn ?

*** Vì bí quyết “men” được coi như sinh mạng, và làm gốm rất khổ cực, “chân lấm tay bùn”, cộng thêm phong tục “ gái theo chồng”, cho nên nghề gốm từ trước đến nay chỉ truyền cho con cháu trai trong dòng tộc, hiếm hoi chỉ có vợ Đặng Huyền Thông cùng làm với chồng. Vậy người truyền cho bà là ai, hay Bùi-Thị-Hý chỉ đơn thuần như một thương nhân ?

**** Một nhân vật tài cao chức trọng , từng là chủ thương nhân của nhiều lò gốm, thịnh đạt rực rỡ vào thế kỷ XV, đột nhiên biến mất không tung tích, không để lại gì dù chỉ là một câu chuyện. Địa điểm này từ thế kỷ XV đến trước 1980, hàng trăm năm người ta chỉ biết đến nghề dệt cói ?

***** Sau khi ông Tăng Bá Hoành về hưu, tuổi tác và sức khỏe , và nhất là không có viện trợ nữa nên công cuộc tìm kiếm đành phải gác lại. Tại sao một đề tài đang rất hấp dẫn như thế lại không có nhà tài trợ ? Các cử nhân vỡ mộng, tiến sĩ, giáo sư chẳng có người nào làm đề tài về Bà Bùi-Thị-Hý ? Cuộc hội thảo năm 2009 do Giáo sư Phan Huy Lê và đánh giá của Nhật về chiếc la bàn tại sao không được các trang báo đăng tin ?



Tạm Kết

Thành công của gốm Chu Đậu, như đã nói, được tìm thấy từ 2 nguồn chính, một trong số đó là chiếc bình gốm cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ
. Từ đây, chúng ta đươc biết đến Bùi-Thị-Hý, một con người tài năng xuất chúng, gia đình dòng dõi.

Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề này tồn tại nhiều luồng phản biện,những ý kiến trái chiều và còn không ít câu hỏi đang để ngỏ, thì việc coi bà là tổ nghề gốm Chu Đậu, là một khẳng định không mấy khách quan, nó nói lên một thái độ phi khoa học. Việc dựng bàn thờ thắp hương bà , hiện nay ẩn bên trong một phần là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của con cháu Việt Nam, đã lãng quên những tiền nhân thực sự.

Trong công cuộc quảng bá thương hiệu du lịch làng nghề gốm cổ, những lãnh đạo đã vô tình/ hữu ý bỏ qua những luận điểm khoa học không có lợi cho mình, để “tạo ra lịch sử” . Với chương trình thi tìm hiểu gốm Chu Đậu vừa qua của các em tiểu học và trung học cơ sở, tôi nghĩ có lẽ cũng đề cập đến bà Bùi-Thị-Hý. Và cuộc thi nào cũng có trao giải thưởng.Nếu một ngày nào đó , các em hiểu biết hơn, phải quay lại nghi ngờ chính những dòng chữ của mình viết ra, điều đó thật là buồn.

Về phần riêng của mình, tôi nghĩ quan trọng nhất và có giá trị nhất hiện nay được ghi trên bình gốm cổ, đó là địa điểm Nam Sách-Hải Dương, nơi đang tổ chức chương trình du lịch làng gốm cổ Chu Đậu tại thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách.
Còn về phần ai là tổ nghề, nên chăng, không vội vàng công bố để sau này đỡ cho lịch sử một phần gánh nặng, xác định rõ lại, rồi phổ biến sau cũng chưa muộn.






...“ Khi có sự đồng thuận của các nhà nghiên cứu, chúng ta mới có cơ sở khoa học để đề xuất với các cấp lãnh đo có hình thức thức tôn vinh xứng đáng đối với nữ tài Bùi Thị Hý.”
-        Hội thảo 20/6/2009 , GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lch sử Việt Nam




Tài liệu tham khảo
1.       Năm 2009, vào thời Chu Đậu nổi lên như một cơn sốt
Ông Hạ Bá Định , nghệ nhân gốm Chu Đậu, là thầy dạy vẽ của hai mẹ con tôi . Ông Đặng Thành Long ( trưởng khoa gốm trường ĐH Công nghiệp mỹ thuật, có công tác hơn 5 năm dưới Chu Đậu, là bạn của gia đình, mỗi lần về tp.Hải Dương đều ghé qua nhà.
Trong những người thợ gốm cốt cán ở Chu Đậu từ năm 2006 đến 2009 có nhiều  người là học sinh của ba ngày trước.
Ba tôi là giám đốc kỹ thuật ở Gốm Chu Đậu trong 3 năm. ( 2006-2009)  .
Ông Tăng Bá Hoàng , Đậu là bạn của ba mẹ.
Ông Nguyễn Văn Lưu- giám đốc Chu Đậu từng nhiều lần xuống nhà tôi chơi.
Ông Bùi Văn Lợi có làm thơ, rất quý gia đình, học trò và mẹ đã từng xuống nhà ông vào Tết năm 2009 . Được ông cho xem mâm đồng, gia phả và dẫn ra khu mộ của bà Bùi Thị Hý, lúc đó còn chưa được các nhà khảo cổ học khai quật.
Vốn là gia đình làm gốm. Ba mẹ và người viết đã dành cho Chu Đậu những quan tâm đặc biệt, những cuộc trò chuyện, thảo luận diễn ra ngay trong nhà. Trước khi làm đề tài đã có những cuộc gọi để kiểm chứng lại.
 Bản thân cũng từng đến thăm quan và nói chuyện với các thợ vẽ gốm ở Chu Đậu nhiều lần.
2.       Kết quả cuộc hội thảo ngày 20/6/2009 Tại hội thảo do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Hải Dương phối hợp với huyện Gia Lộc tổ chức vào ngày 20/6/2009
3.       Luận văn phát triển du lịch làng nghê gốm Chu Đậu. luanvan.net.vn
4.       "Ðại hay Thái: Một cái chấm làm thay đổi lịch-sử nhà Lê và quyết-định lịch-sử đồ gốm Việt Nam", Đoan Hùng - báo Thế Kỷ 21 #141, số xuân Tân Tỵ - tháng giêng 2001
5.       Một vài suy nghĩ về việc "tìm mộ bà tổ làng gốm Chu Đậu"- Đoan Hùng- viethoc.org
6.       Bản quyền Góc Nhìn © 2009-2014 NHIỀU NGUỒn Về gốm Chu Đậu cổ
Theo trang dulichthonhiky.com, Theo trang baomoi.com, Theotrang vi.hoianfestival.com, Theo trang vietbao.vn
7.       Tăng Bá Hoành -  "Quá trình phát hiện, nghiên cứu, phát huy gốm Chu Ðậu" đăng trên tạp chí "Khoa học và ứng dụng" của "Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hải Dương" số 2-2005.
8.       Tăng Bá Hoành - Hải Dương cuối tuần, số 304 ngày 22-6-2006) với bài: "Dấu hỏi qua 20 năm về gốm Chu Ðậu đã được trả lời".



9.       Họ Bùi Việt Nam- http://hobuivietnam.com.vn- Người làm chiếc bình gốm hoa lam cổ Chu Đậu
01.09.2007 18:44
10.     Các trang web du lịch liên quan đến Chu Đậu




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét