Dẫn nhập
Hải Dương, có một nhà văn tả
nơi đó như là” một vùng nông thôn nhỏ nằm giữa hai thành phố lớn” , Hải Phòng
và Hà Nội. Thuộc đồng bằng sông Hồng, nơi chiêm trũng này được ôm ấp bởi các
con sông lớn, sông Thái Bình , sông Thương và phân nhánh của nó; sông Kinh
Thày, Kinh Môn, Ranh, Kẻ Sặt, Tứ Kỳ… Thiên nhiên ưu đãi lại 3 mặt giáp ranh với
các nền văn hóa/ đô thị lớn , hiện nay là trung tâm vùng trọng điểm phát triển kinh tế Hà Nội – Hải
Phòng – Quảng Ninh, Hải Dương được biết đến không chỉ bởi các đặc sản
như bánh đậu xanh( Hải Dương) , bánh gai, bánh khảo ( Ninh Giang), , vải thiều (Thanh Hà)... mà
còn nổi tiếng với những làng nghề chuyên làm đồ trang sức vàng ,bạc ( Bình Giang), thợ dệt sống ở Đan Loan) , quạt
giấy Đào Xá ( Hải Dương) , da giầy ở
Trúc Lâm, Văn Lâm ( Hải Dương) …
Là một tỉnh có nhiều làng nghề thủ công truyền thống đặc sắc , Nhưng hơn hết , và nổi tiếng,
có lẽ nên kể đến tên làng gốm sứ
Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, Huyện Nam Sách - đã nổi tiếng trên thế giới từ hơn
500 năm nay. Các sản phẩm gốm Chu Đậu đang được lưu giữ tại nhiều bảo tàng quốc
gia trên thế giới như Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Bỉ, Nhật Bản, Hà Lan… và trong sưu tập
cá nhân của nhiều nước trên thế giới.
Hưởng ứng phong trào Ngày 27/4, tỉnh Hải Dương tổ chức “Khai mạc chương trình du lịch làng gốm
cổ Chu Đậu” tại thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, một trong hai hoạt động
lớn của Hải Dương nhằm hưởng ứng Năm Du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng-Hải
Phòng 2013. Học trò, quê ở
Hải Dương, mong muốn viết về quê hương đã lâu , nay xin góp một góc nhìn, bàn
thêm về văn hóa du lịch Chu Đậu.
CHƯƠNG I. MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG
I.1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1.1 Xu hướng
Có thể bắt
đầu câu chuyện từ góc nhìn hiện sinh ( existentialism) chăng ? Với hai tâm điểm
chính là chủ thể tính và nhân vị tự do, không coi con người là một sự vật của
toàn bộ vũ trụ, mà như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ
một giá trị tùy quan điểm của mỗi người. Tự do ở đây có nghĩa là dám là mình, tự
do chọn lấy một lối sống riêng , không bắt chước người khác. ( Đặng Thân: 2012) … Và con người muốn vượt
khỏi cuộc sống thì phải vượt lên trên mình, thoát khỏi ràng buộc về không gian,
thời gian.
Khi nhật ký
thời chiến đã gần như bão hòa , đã thuộc vào danh sách “nằm” như nhiều người
nói, (http://vietbao.vn/Van-hoa/Sach-nhat-ky-thoi-chien-da-bao-hoa/65045639/181/ )cộng thêm ảnh
hưởng của hiện sinh ngày càng mạnh mẽ ở Việt Nam, thì xu hướng người du lịch muốn
đi và ghi lại nhật ký hành trình đã kịp thời “đứng” lên và bước rất nhanh. Du ký Việt Nam ( 2007), , và lan rộng trong
năm 2013 là những “ John đi tìm Hùng “ – Jonh Hùng , Tôi là một con lừa- Nguyễn
Phương Mai gây “sốt” trên thị trường sách Việt. Thậm chí có cả bút ký của người
ngoại quốc, bloger Joe- Ngược chiều vun
vút ( 2012 )
Kế đó hẳn
là trào lưu đi du lịch của nước ngoài, được xem như là một trong những cách sống
của những người ưa phiêu lưu, tìm tòi và thành đạt, , mà điển hình một câu nói của người Israel
trong cuốn “Quốc Gia Khởi Nghiệp”:” Đi thật xa, ở lại lâu, nhìn thật kỹ “.
Và hơn bao giờ hết , thế giới
tiếp tục ngày càng phẳng, nhu cầu đi lại tăng chóng mặt khi phương tiện vận
chuyển trở nên dễ dàng hơn. Du lịch Việt Nam dù muốn hay không , cũng phải hội
nhập.
I.1.2 Thao tác hóa khái niệm
… Xin trở lại với du lịch
làng nghề truyền thống và các khái niệm.
Thầy Vượng đã thử đưa ra một khái niệm trong Kỷ yếu hội thảo
quốc tế “Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống việt nam” tháng 8/1996. (
trang 38-39 ), Sau đó trong Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm,( Trần Quốc
Vượng : 2000 tr172 ), ông “ thử đưa ra một
khái niệm về làng nghề” , mà theo nhiều nhà khoa học nhận định, thì thực chất
đây là khái niệm đầy đủ nhất từ trước đến nay
“ Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông
và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác (như đan lát, gốm sứ, làm tương.)..
song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công
chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm,
ông cả... cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ
nhất định ( “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”) , sống
chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt
hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị
với một thị trường là vùng rộng xung quanh, với thị trường đô thị và tiến tới
mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”
Làng
nghề
thủ công là một loại tài nguyên nhân văn quan trọng , gồm các loại hình du lịch
di tích lịch sử- văn hóa, lễ hội/ festival, làng nghề, thờ cúng tổ nghề, ẩm thực/
đặc sản địa phương,
Ngoài ra,
đi kèm với nó các hoạt động tín ngưỡng khác ở làng xã, Xem khu lấy nguyên liệu,
trình diễn quy trình làm sản phẩm, và giao lưu với các nghệ nhân, giám đốc,; đặc
biệt là các “ độc bản” có một không hai, các tác phẩm của nghệ sĩ , thuộc một
trong số những điều cần được giới thiệu tỉ mỉ
Từ đó có thể thấy Du lịch làng nghề là loại hình
du lịch văn hoá tổng hợp đưa du khách tới tham quan các Làng nghề truyền thống
Việt Nam. Tour du lịch làng nghề là dịp được khám phá, tìm hiểu quy trình kỹ
thuật của nghề truyền thống, thâm nhập cuộc sống cộng đồng với những phong tục,
tập quán và các nghi thức phường, hội riêng của các làng nghề truyền thống trên
khắp miền đất nước
I.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Sau khi đề án Khôi phục
và phát triển sản xuất và du lịch làng nghề gốm Chu Đậu cùng một số các nghiên
cứu khoa học khác của Sở Công thương Hải Dương được thực hiện năm 2004, xí nghiệp
gốm Chu Đậu đã chính thức đón những lượt khách thăm quan đầu tiên. Số lượng
khách du lịch không ngừng tăng qua các năm, thúc đẩy sự tăng trưởng nguồn thu
cho xí nghiệp gốm Chu Đậu.
Bảng 1. Lượng khách du lịch đến làng gốm Chu Đậu (2005 - 2009)
Năm
Khách
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
2009
|
Tốc độ tăng TB %/năm)
|
|
Quốc tế
|
509
|
749
|
933
|
1002
|
905
|
17,4
|
|
Nội địa
|
1.387
|
3.869
|
4.651
|
5.026
|
5.103
|
52,2
|
|
Tổng số
|
1.896
|
4.618
|
5.584
|
6.028
|
6.008
|
43,0
|
Nguồn: Xí nghiệp gốm Chu Đậu – Hapro Hà Nội
|
Số lượng khách
|
Chu Đậu
|
|
1-9 khách
|
50.000đ
|
|
10-19 khách
|
30.000đ
|
|
20 khách trở lên
|
20.000đ
|
Để phát huy sự phát
triển của nghề gắn liền với du lịch, công ty Hapro tích cực liên kết với một số
tour của các công ty Lữ Hành như tour
B.2:
Nguồn :Hiệp hôi Du Lịch Hải Dương
Hà Nội - Hải Phòng – Hạ Long
Hà Nội – Hưng
Yên – Hải Dương – Hải Phòng
Hà Nội – Bắc
Ninh – Hải Dương – Quảng Ninh và các tour du lịch nội tỉnh.
11/2012 Hiệp
hội du lịch tỉnh Hải Dương mở Tuyến du
lịch Hà Nội – Nam Cường- Làng gốm Chu
Đậu ( thăm quan khu du lịch từ 9:00 đến 10:30 )
2/ 2013 CHƯƠNG
TRÌNH LỄ HỘI TẾT, Tuyến HÀ NỘI – ĐỀN ĐÔ – ĐỀN CHU VĂN AN - GỐM CHU ĐẬU – ĐỀN
NGUYÊN PHI Ỷ LAN (Thời gian
thăm Chu Đậu khoảng từ 14:00-15:30) trọn gói 250.000
Với 1 tiếng rưỡi đồng hồ,nói là khách đến du lịch nhưng
thực chất mới chỉ là thăm quan và mua gốm, hầu như chưa có hoạt động nào thêm để
thu hút khách ở lại với thời gian dài.
Rõ ràng, sự phát triển du lịch của Chu Đậu hiên nay chủ yếu là do sức hút của
tiếng tăm và vẻ đẹp gốm Chu Đậu, chứ chưa xuất phát từ một làng nghề cổ truyền
Xí nghiệp
Gốm Chu Đậu còn thực hiện nhiều chương trình chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm
Thăng Long - Hà Nội. Trong năm 2009, Đài truyền
hình Việt Nam phát sóng bộ phim truyền hình Cổ Vật vào thời gian giờ vàng trên
VTV1.
Theo điều
tra, tỉ lệ người biết đến gốm Chu Đậu qua các hình thức quảng cáo như sau:
|
Hình thức
|
Giới thiệu
|
Quảng cáo báo chí
|
Website
|
Tin khác
|
|
Tỉ lệ (%)
|
84,29
|
2,14
|
7,14
|
6,34
|
B.3 Nguồn : Luận văn phát triển du lịch làng
nghề gốm Chu Đậu – 2009
Số lượng khách nước
ngoài cũng được điều tra, tuy còn hạn chế nhưng
cũng phần nào phản ánh được thực tế là khách nước ngoài còn ít biết đến gốm Chu
Đậu. Những người am hiểu và yêu thích gốm thì rất yêu thích gốm Chu Đậu, nhưng
số lượng này vẫn rất ít. Đa phần khách
được hỏi vẫn trả lời về gốm Bát Tràng. Rõ ràng, mặc dù là dòng gốm cao cấp,
nhưng Chu Đậu vẫn chưa quảng bá được hình ảnh của mình.
|
Tiêu chí
|
Tiêu chí
|
Số khách đã từng
đến Chu Đậu (ít nhất 1 lần)
|
Số khách muốn
tham gia tour Chu Đậu
|
||
|
Tổng số khách được
điều tra
|
Số khách biết đến
gốm Chu Đậu
|
Số khách chưa biết
đến gốm Chu Đậu
|
|||
|
Số người
|
45
|
12
|
33
|
8
|
33
|
|
Tỉ lệ(%)
|
100
|
26,7
|
73,3
|
17,9
|
73,3
|
B.4 Số khách nước ngoài được điều
tra . Nguồn : Luận văn phát triển du lịch làng nghề gốm Chu Đậu – 2009 .
Chương
II. Bùi-Thị-Hý đối với văn hóa du lịch Chu Đậu , một cách nhìn từ góc độ lịch
sử.
VnMedia) –Theo Ông Nguyễn Hữu Hiệp, Phó
giám đốc Xí nghiệp Gốm Chu Đậu cho biết, gốm Chu Đậu được tìm thấy từ 2 nguồn
chính, đó là chiếc bình gốm cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ và ở lần phát hiện 5 con tàu đắm ở
vùng biển Cù Lao Chàm, Hội An.
II.1 Chiếc bình cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ
II.1.1 "thái hòa
bát niên, nam sách châu, tượng nhân bùi thị hý bút"
(Một ngẫu nhiên rất riêng, bởi ở Việt Nam, tất cả các nền
văn hóa đều bắt nguồn từ những sự tình cờ của những người nông dân đầu trần
chân đất. Câu Chuyện này lại bắt
đầu từ lá thư của ông Makoto Anabuki, Bí thư Văn hóa Đại sứ quán Nhật Bản gửi
cho Bí thư Tỉnh ủy Hải Hưng (cũ) nhờ tìm xuất xứ một chiếc bình gốm .
Theo lời ông
Makoto, năm 1980, khi công tác ở Thổ Nhĩ Kỳ, đã được chiêm ngưỡng một bình gốm
được coi là quốc bảo tại Bảo tàng Topkapi Saray Istanbul. Chiếc bình được mua bảo
hiểm 1 triệu USD. Trên lớp tráng xanh da trời và trắng của bình gốm tinh xảo đó
có khắc 13 chữ Hán: "Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị
Hý bút" (Dịch : Năm Thái Hòa thứ 8 (1450), tại châu Nam Sách, nghệ nhân
Bùi Thị Hý viết/vẽ/tạo).
Chiếc
lọ hoa lam này sau đó đã trở thành tiêu bản mẫu để làm rõ những đồ gốm men hoa
lam khác không ghi niên đại, là một điểm chỉ dẫn sự tìm kiếm về trung tâm làm gốm
men Chu Đậu thời phong kiến của khảo cổ học Việt Nam.
Ông Tăng Bá Hoành đã viết bài "Quá trình phát
hiện, nghiên cứu, phát huy gốm Chu Ðậu" đăng trên tạp chí "Khoa học
và ứng dụng" của "Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hải
Dương" số 2-2005,
Tuy
nhiên , bởi viết bằng chữ Hán, không chấm phẩy, không phân biệt chữ viết hoa và
chữ viết thường. Cho nên chữ “Bùi Thị hý bút” có nhiều cách dịch :
(i)
(Một người thuộc )Họ nhà- ( thị tộc) - Bùi vẽ chơi ? 氏 thị
= họ”
Trong trường
hợp tôn xưng lại là khác như Mạc Thị, Viên Thị hay là triều đình nhà Nguyễn 阮氏王朝 (Nguyễn
Thị Vương Triều) là do tôn tộc hệ thống xưng hiệu ở ngoài gọi vô. Mạc Thị trong
trường hợp trên là xưng hiệu.
(I.ii)Đích
thị (là ) ông Bùi vẽ chơi ?
TS Nguyễn Đình Chiến - Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam:
“Về chuyện giải mã mười mấy chữ Hán trên chiếc bình hoa lam tại Thổ Nhĩ Kỳ, tôi
vẫn nghiêng về cắt nghĩa chữ Bùi Thị Hý nghĩa là ông Bùi nào đó vẽ chơi chứ
không phải Bùi Thị Hý là một nghệ nhân nữ có tên Bùi Thị Hý".
(iii)
Nghệ nhân Bùi Thị Hý vẽ/viết/tạo …?
Giả
phương án (iii) là đúng, cũng có thể còn xảy ra 2 trường hợp khác.
-Giả
như người thợ đã làm tác phẩm đó xong xuôi, và bà Bùi Thị Hý/ Ông Bùi hứng lên
ghi vào ?
-
Vì không biết chữ, nhờ người viết hộ ?
-
Vì chữ và nét vẽ cũng không đẹp. Nên nhờ người viết/vẽ hộ, lấy tên mình để mang
đi tặng ai đó, thậm chí treo trong nhà cho “ Mr. Oai” ?
Chưa kể chữ “Thái”
trong bình gốm hoa lam ở Thổ Nhĩ Kỳ mất dấu chấm dưới chữ “Ðại” ( thái = đại + dấu chấm ở dưới - Đại (大) hay Thái (太)) đã làm phiền
lòng nhiều học giả. Nay niên hiệu Thái Hòa ở đây cũng được khẳng định, các học
giả không còn bận tâm về Thái Hòa hay Ðại Hòa nữa. (trong bài "Ðại hay Thái:
Một cái chấm làm thay đổi lịch-sử nhà Lê và quyết-định lịch-sử đồ gốm Việt
Nam", đăng trong báo Thế Kỷ 21 #141, số xuân Tân Tỵ - tháng giêng 2001 )

H.1 Bình Tokapi Saray -
với câu: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” Hình từ: Vietnamese Ceramics, a
separate tradition của Joh Guy và John Stevenson
II.2 Bà cô tổ dòng họ Bùi.
II.2.1 Các cứ liệu, hiện vật của Bùi Văn Lợi
Ngày 16/5/2007, anh Lợi tìm được (i)con nghê ở lò gốm cổ, nơi mà gia phả
nói là do Đặng Sĩ xây dựng năm Thái Hòa thập niên (1452), cao 22cm, dài 27cm,
đế rộng 6,5cm, phía đuôi có chữ viết, mang cho các nhà sử học nghiên cứu.
Hình dáng cũng như chất liệu của
con nghê này không có gì lạ vì có một số hiện vật tương tự ở những hố khai quật
tại Chu Đậu và làng Cậy, điều quan trọng là 2 dòng chữ: "Quang Thuận nhất
niên, Quang Ánh trang, Bùi Thị Hý tạo", có nghĩa hiện vật do Bùi Thị Hý, ở
trang Quang Ánh, tạo vào năm Quang Thuận thứ nhất (1460).
Tại hội thảo do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Hải Dương phối
hợp với huyện Gia Lộc tổ chức vào ngày 20/6/2009, đại diện dòng họ Bùi, các nhà sử học và khảo cổ học đưa ra nhiều chứng cứ, hiện vật liên
quan đến nhân vật lịch sử
thú vị này.
Trong số các hiện vật, có (ii)chiếc la bàn bằng
đá( Ngày 14.4.2009, ông Lợi còn cung cấp cho
ông Hoành một khối đá nhỏ có chữ Hán, lẫn trong đống đá tảng đầu nhà... đơn giản
đến khó tin... Di vật bỗng dưng tìm lại được sau... 500 năm mà... ở ngay chính
đầu nhà.) trên đó khắc: “Châm bàn chu hải khứ
Bùi Thị Hý” …
H.2 La bàn đi biển của bà Bùi Thị Hý
…và (iii) gia phả do chính phu quân
của bà là ông Đặng Phúc lập bia
gồm 379 chữ ghi rằng:
“Bùi Thị Hý, người
vợ kỳ tài, hiệu là Vọng Nguyệt, là con gái trưởng của quan mã vũ Bùi Đình Nghĩa, cháu ba đời lão tướng Bùi Quốc Hưng.
Phu nhân sinh năm Canh
tý (1420), thời Bình Định Vương, mất ngày 12 tháng
8 năm Cảnh thống Kỷ mùi (1499).
Phu nhân có tài văn chương, chữ viết
đẹp, lại có kỳ tài về hoạ, từng cải trang đi thi Đại khoa đến kỳ thi thứ
ba, khoa Nhâm Tuất,
năm đại bảo thứ ba (1442), bị quan
trường (phát giác) kỷ luật, đuổi khỏi trường thi. Sau bèn xuất giá, cùng đại gia
phu quân Đặng Sỹ, làm nghề nung sành sứ, tại trang
Chu, châu Nam Sách, chế đồ gốm cống triều đình đương thời và xuất cho thương nhân nhiều nước
như: Nhật Bản, Trung Quốc, và phương
Tây. Sau Đặng Sỹ cùng những người làm thuê gặp nạn, chết ở biển Đông.
Phu nhân tái giá, lấy đại gia Đặng Phúc,
người Trang Chu.
Phu nhân là một trang nữ tài võ, thông văn, làm chủ thương đoàn đi Nhật Bản,Trung
Quốc, phương Tây để buôn bán đặc phẩm gốm sứ. Thật buồn thay, phu nhân kỳ tài làm bình gốm mà lại không
con…”.
Nhưng…
Khi đưa chiếc “ la bàn” qua Nhật để kiểm chứng ( Vì người Nhật có
lịch sử đi biển lâu đời, có các công cụ khoa học để kiểm tra và có mỗi quan hệ
tốt với Việt Nam) thì
Và…
Ông Tăng Bá Hoành
đã dịch tóm tắt nội dung gia phả cùng với hiện trạng của gia phả như họ Bùi như
sau: (báo Hải Dương cuối tuần, số 304 ngày 22-6-2006) với bài: "Dấu hỏi
qua 20 năm về gốm Chu Ðậu đã được trả lời". )
“ Hiện nay hai cuốn
gia phả của họ Bùi thôn Quang Tiền, xã Ðồng Quang vẫn còn lưu giữ. Mặc dù cuốn
thứ nhất sao lại đã gần 175 năm, vải đã mục, chữ đã mờ, cuốn thứ hai sao lại
cách đây 74 năm viết trên giấy bản đã ố vàng nhưng chữ vẫn còn đọc dịch được ” Căn
cứ vào tấm bia mộ chí của bà Bùi Thị Hý khắc dựng ngày 10/10 năm Cảnh Thống
(Nhâm Tuất- 1502), Cuốn thứ nhất sao y bản cổ năm Nhâm Thìn (1832),
viết bằng chữ Hán trên nền vải . cuốn thứ
hai được lí trưởng Bùi Đức Nhuận sao tóm tắt viết bằng chữ Hán trên giấy bản năm
Bảo Đại (Nhâm Thân -1932)tức 100 năm sau
Ngày 10.1.2009, hậu duệ bà Hý đào tìm,
phát hiện một số vật yểm và viên gạch đất
nung (iv) màu hồng nhạt, nhẹ lửa, mẻ một góc có ghi những
thông tin quan trọng về mộ chí của bà Bùi Thị Hý.
Mặt một nói nơi để mộ, dịch: “ Mộ Tổ cô ban đầu táng tại Gò Thổ Thư, nhìn về
hướng bắc. Tổ tiên truyền lại rằng, hậu duệ của đại thương gia Trịnh Hòa, triều
Minh, niên hiệu Thiên Thuận (1457 - 1464), là bạn nữ, tặng Tổ cô một chiếc chén
sứ quý. Khi Tổ cô qua đời, chôn theo chiếc
chén sứ gia bảo. Sau có bọn trộm đào lấy hết. Lại gặp giặc phá hủy. Mộ được
chuyển đến khu đất Rồng. Cấm tuyệt đối mọi người trong dòng họ vi phạm lời truyền
(của tiền nhân). Vị , Nhuận, Cần (tên trưởng 3 chi họ đương thời). “
Có
nghĩa là Mộ đã được di chuyển 2 lần, 1 lần bị đào trộm, và một lần Do chiến
tranh. Các di vật bị lấy cắp, những hiện vật bị đánh tráo, thay đổi. Gia phả đã
qua hai lần sao đi chép lại, mà “tam sao thất bản” , chưa kể người viết lại
chưa hiểu hết dụng ý của thời đại mà viết
theo thời đại của mình. Như vậy, bản thảo không phải là “bản gốc”, mà mộ tìm được
của bà cũng không phải là “mộ gốc”
Ngày 9/9 năm Kỷ Sửu (tức
26/10/2009), dòng
họ Bùi khởi công xây mộ cho bà cô tổ. Đến khoảng 12 giờ trưa thì tìm thấy mộ
phần của bà Bùi Thị Hý cạnh nơi tìm được bia mộ chí.
Hòn gạch đậy trên mộ được mang về Bảo tàng Hải Dương có ghi
"Tẫn cốt tổ cô Bùi Thị Hý nội bình đồng Vọng Nguyệt bảo kiếm" (Dịch:
Tro xương tổ cô Bùi Thị Hý trong bình cùng (II.2.v)thanh
kiếm của bà - Vọng Nguyệt là tên hiệu của bà Hý). ( H.3)
H.3 Hòn gạch đậy trên mộ
II.2.2 Từ “dưới đất chui lên” ?/!
Như vậy, Bà
Hý sinh ra trong gia đình dòng dõi, tài năng
Về văn học thì bà giả trai đi thi đến tam trường.
Về nghệ thuật thì bà vẽ giỏi viết đẹp. Về buôn bán thì bà là "đại
gia". Mộ bà có “ chén sứ gia bảo”, lại thêm "bảo kiếm". Thế vẫn
chưa đủ, vẫn còn! Bà đi biển, bà đích thân có chiếc la bàn!.
(i)Thứ
nhất là về con rồng (có báo ghi là con nghê) có ghi tên bà. “光順一年 光映庄裴氏戲造” "Quang Thuận nhất niên Quang Ánh Trang, Bùi Thị
Hý tạo". Quang Thuận là niên hiệu đầu tiên thời vua Lê Thánh Tông, Quang
Thuận nhất niên là năm 1460. Năm bà Hý 40 tuổi.Năm đầu người ta dùng chữ "."nguyên
niên" (元年) hay "sơ" (初
Thí
dụ "Chính Hoà Nguyên Niên": năm Chính Hòa thứ nhất. "Quang Trung
Sơ": Quang Trung năm thứ nhất. Riêng năm đầu niên hiệu như ở một chân
đèn thời nhà Mạc thì ghi:
“延成萬[萬]年之初三月三十日”
"Diên Thành vạn vạn niên chi SƠ tam nguyệt tam thập nhật" ( tức 30/3 DiênThành năm thứ nhất (1578) ). [ Cẩm Nang Đồ Gốm VN có Minh Văn, Nguyễn Đình Chiến, VBTLSVN, Hà Nội 1999]
Người xưa không dùng "nhất niên" cho năm đầu tiên của niên hiệu.
Ta chẳng có nghiên mực, quyển sách cổ nào có tên Nguyễn Du, Lê Quý Đôn v.v. trên đó cả. Sách cổ có "tung tích" như của cụ Cao Xuân Dục thì ghi là "Long Cương Thư Viện" chứ nào viết thẳng là "Cao Xuân Dục"!
“延成萬[萬]年之初三月三十日”
"Diên Thành vạn vạn niên chi SƠ tam nguyệt tam thập nhật" ( tức 30/3 DiênThành năm thứ nhất (1578) ). [ Cẩm Nang Đồ Gốm VN có Minh Văn, Nguyễn Đình Chiến, VBTLSVN, Hà Nội 1999]
Người xưa không dùng "nhất niên" cho năm đầu tiên của niên hiệu.
Ta chẳng có nghiên mực, quyển sách cổ nào có tên Nguyễn Du, Lê Quý Đôn v.v. trên đó cả. Sách cổ có "tung tích" như của cụ Cao Xuân Dục thì ghi là "Long Cương Thư Viện" chứ nào viết thẳng là "Cao Xuân Dục"!
( ii)Cứ cho rằng bà đi biển (như đi thăm
dò thị trường chẳng hạn) thì vị tất bà đã phải tự lái tàu! Chuyện đó có thuyền trưởng họ lo! Chuyện đi biển là chuyện "chuyên nghiệp", phải
biết địa lý, xem sao, biết luồng nước, con gió, cảng nông sâu, biết điều khiển
thủy thủ, ... đủ cả.(iii) Nếu bà có cả "Bảo Kiếm" thì lại quả thật là lạ thưòng! Đúc kiếm vốn chẳng phải là mặt mạnh của truyền thống trọng văn khinh võ Việt Nam.
Có đào được mộ của các quan võ cũng chẳng thấy "bảo kiếm" nào chôn kèm.
H4. “Kiếm báu” trên tay ông Bùi Văn Lợi
(iv)
Ở nước ta chuyện khắc tên "tục" trên vật dụng thì theo chỗ tôi hiểu
là chưa từng có hoặc nếu có thì quả thực là hi hữu.
Qua những cứ liệu xứ người, và cả của “ao nhà”, tôi cũng tự hỏi :
* Tại sao không có bất cứ hiện vật nào được công bố dựa trên
phương pháp niên đại tuyệt đối ( C14, ASM...) . mà tất cả đều được dựa trên
phương pháp xác định niên đại tương đối và suy đoán qua chữ Hán của ông Tăng Bá
Hoành ?
** Thông thường, trong các gia phả thì vị thế người
phụ nữ ít đưọc xem trọng. Trong
cách gọi ngoài đời sống,chỉ có tên đàn ông, còn vợ thì phần lớn chỉ nêu tên, hoặc
gọi bằng họ chồng, lắm khi khuyết cả họ. phong tục này đến
nay ở Nam Sách- Hải Dương vẫn còn.
Người phụ nữ thời xưa cũng không tự xưng. Nếu mà đã xưng rành mạch
về họ tên thì câu trên nó cần có thêm chữ “ chi”
. Mặt khác, giả dụ như cái la bàn thực là của bà,cả con rồng và bình cổ ở Thổ
Nhĩ Kỳ... thì vị tất bà đã khắc tên mình trên đó, mà là tên "tục" chứ
không phải như "Đặng Phu Nhân" chẳng hạn ?
*** Vì bí quyết “men” được coi như sinh mạng, và
làm gốm rất khổ cực, “chân lấm tay bùn”, cộng thêm phong tục “ gái theo chồng”,
cho nên nghề gốm từ trước đến nay chỉ truyền cho con cháu trai trong dòng tộc,
hiếm hoi chỉ có vợ Đặng Huyền Thông cùng làm với chồng. Vậy người truyền cho bà
là ai, hay Bùi-Thị-Hý chỉ đơn thuần như một thương nhân ?
**** Một nhân vật tài cao chức trọng , từng là chủ thương nhân của
nhiều lò gốm, thịnh đạt rực rỡ vào thế kỷ XV, đột nhiên biến mất không tung
tích, không để lại gì dù chỉ là một câu chuyện. Địa điểm này từ thế kỷ XV đến trước
1980, hàng trăm năm người ta chỉ biết đến nghề dệt cói ?
***** Sau khi ông Tăng Bá Hoành về hưu, tuổi tác và sức khỏe , và
nhất là không có viện trợ nữa nên công cuộc tìm kiếm đành phải gác lại. Tại sao
một đề tài đang rất hấp dẫn như thế lại không có nhà tài trợ ? Các cử nhân vỡ mộng,
tiến sĩ, giáo sư chẳng có người nào làm đề tài về Bà Bùi-Thị-Hý ? Cuộc hội thảo
năm 2009 do Giáo sư Phan Huy Lê và đánh giá của Nhật về chiếc la bàn tại sao
không được các trang báo đăng tin ?
Tạm Kết
Thành công của gốm Chu Đậu, như đã nói, được tìm thấy từ 2 nguồn chính, một trong số đó là chiếc bình
gốm cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ
. Từ đây, chúng ta đươc biết đến bà Bùi-Thị-Hý, một con người tài năng xuất chúng, gia đình dòng dõi.
Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề này tồn tại nhiều luồng phản biện,những ý
kiến trái chiều và còn không ít câu hỏi đang để ngỏ, thì việc coi bà là tổ nghề
gốm Chu Đậu, là một khẳng định không mấy khách quan, nó nói lên một thái độ phi
khoa học. Việc dựng bàn thờ thắp hương bà , hiện nay ẩn bên trong một phần là truyền
thống “uống nước nhớ nguồn” của con cháu Việt Nam, đã lãng quên những tiền nhân
thực sự.
Trong công cuộc quảng bá thương hiệu du lịch làng nghề gốm cổ, những lãnh
đạo đã vô tình/ hữu ý bỏ qua những luận điểm khoa học không có lợi cho mình, để
“tạo ra lịch sử” . Với chương trình thi tìm hiểu gốm Chu Đậu vừa qua của các em
tiểu học và trung học cơ sở, tôi nghĩ có lẽ cũng đề cập đến bà Bùi-Thị-Hý. Và cuộc
thi nào cũng có trao giải thưởng.Nếu một ngày nào đó , các em hiểu biết hơn,
phải quay lại nghi ngờ chính những dòng chữ của mình viết ra, điều đó thật là
buồn.
Về phần riêng của mình, tôi nghĩ quan trọng nhất và có giá trị nhất hiện
nay được ghi trên bình gốm cổ, đó là địa điểm Nam Sách-Hải Dương, nơi đang tổ chức chương trình du lịch làng gốm cổ Chu Đậu tại thôn Chu Đậu, xã Thái
Tân, huyện Nam Sách.
Còn về phần ai là tổ nghề, nên chăng, không vội vàng công bố để
sau này đỡ cho lịch sử một phần gánh nặng, xác định rõ lại, rồi phổ biến sau
cũng chưa muộn.
...“ Khi có sự đồng thuận của các nhà nghiên cứu, chúng
ta mới có cơ sở khoa học để đề xuất
với các cấp lãnh đạo có hình thức thức tôn vinh xứng đáng đối với nữ tài Bùi Thị Hý.”
-
Hội thảo 20/6/2009 , GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử
Việt Nam
Tài liệu tham khảo
1.
Năm 2009, vào thời Chu Đậu nổi lên như
một cơn sốt
Ông Hạ Bá Định , nghệ nhân gốm Chu Đậu, là thầy dạy vẽ của hai mẹ con tôi
. Ông Đặng Thành Long ( trưởng khoa gốm trường ĐH Công nghiệp mỹ thuật, có công
tác hơn 5 năm dưới Chu Đậu, là bạn của gia đình, mỗi lần về tp.Hải Dương đều
ghé qua nhà.
Trong những người thợ gốm cốt cán ở Chu Đậu từ năm 2006 đến 2009 có
nhiều người là học sinh của ba ngày
trước.
Ba tôi là giám đốc kỹ thuật ở Gốm Chu Đậu trong 3 năm. ( 2006-2009) .
Ông Tăng Bá Hoàng , Đậu là bạn của ba mẹ.
Ông Nguyễn Văn Lưu- giám đốc Chu Đậu từng nhiều lần xuống nhà tôi chơi.
Ông Bùi Văn Lợi có làm thơ, rất quý gia đình, học trò và mẹ đã từng xuống
nhà ông vào Tết năm 2009 . Được ông cho xem mâm đồng, gia phả và dẫn ra khu mộ
của bà Bùi Thị Hý, lúc đó còn chưa được các nhà khảo cổ học khai quật.
Vốn là gia đình làm gốm. Ba mẹ và người viết đã dành cho Chu Đậu những
quan tâm đặc biệt, những cuộc trò chuyện, thảo luận diễn ra ngay trong nhà.
Trước khi làm đề tài đã có những cuộc gọi để kiểm chứng lại.
Bản thân cũng từng đến thăm quan
và nói chuyện với các thợ vẽ gốm ở Chu Đậu nhiều lần.
2.
Kết quả cuộc hội thảo ngày
20/6/2009 Tại hội thảo do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Hải Dương
phối hợp với huyện Gia Lộc tổ chức vào ngày 20/6/2009
3.
Luận văn phát triển du lịch
làng nghê gốm Chu Đậu. luanvan.net.vn
4.
"Ðại hay Thái: Một
cái chấm làm thay đổi lịch-sử nhà Lê và quyết-định lịch-sử đồ gốm Việt
Nam", Đoan Hùng - báo Thế Kỷ 21 #141, số xuân Tân Tỵ - tháng giêng 2001
5.
Một vài suy nghĩ về việc "tìm
mộ bà tổ làng gốm Chu Đậu"- Đoan Hùng- viethoc.org
6.
Bản quyền Góc Nhìn ©
2009-2014 NHIỀU NGUỒn Về gốm Chu Đậu cổ
Theo
trang dulichthonhiky.com, Theo trang baomoi.com, Theotrang vi.hoianfestival.com,
Theo trang vietbao.vn
7.
Tăng Bá Hoành - "Quá trình phát hiện, nghiên cứu, phát
huy gốm Chu Ðậu" đăng trên tạp chí "Khoa học và ứng dụng" của
"Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hải Dương" số 2-2005.
8.
Tăng Bá Hoành - Hải Dương cuối
tuần, số 304 ngày 22-6-2006) với bài: "Dấu hỏi qua 20 năm về gốm Chu Ðậu
đã được trả lời".
9.
Họ Bùi Việt Nam- http://hobuivietnam.com.vn- Người làm
chiếc bình gốm hoa lam cổ Chu Đậu
01.09.2007 18:44
01.09.2007 18:44
10. Các
trang web du lịch liên quan đến Chu Đậu
http://haiduongtourism.org.vn/new/vi/a5919/khach-san-nam-cuong-hai-duong-lang-gom-chu-dau.html,
http://diendanhotel.com/baiviet/99079-Ha-Noi-Den-Chu-Van-An-Gom-Chu-Dau-Den-Nguyen-Phi-Y-Lan

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét