Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

Gốm Lái Thiêu Giao thoa văn hóa gốm của người Hoa trong quá trình cộng cư trên đất Việt



Gốm Lái Thiêu
Giao thoa văn hóa gốm của người Hoa trong quá trình cộng cư trên đất Việt

Phần I. Dẫn luận

I.1 Lý do chọn đề tài

Có thể nói dân tộc Việt Nam là dân tộc đi lên từ đất.
Gốm tác động tới đời sống của người dân vừa như là một đồ dùng gia dụng trong sinh hoạt hàng ngày, vừa chứa đựng bản sắc của dân tộc, tình cảm của của quê hương, lại mang tính ứng xử đối với môi trường xung quanh, đồng thời hiện hữu bởi giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật qua bàn tay khối óc của cộng đồng dân cư gốm.  
Trải từ Bắc tới Nam, Gốm Lái Thiêu xuất hiện như là hiện tượng thuộc hàng độc đáo nhất trong số hàng chục làng nghề gốm trên khắp đất nước. Đây là sản phẩm của những người Trung Hoa đầu tiên đặt chân lên vùng đất trù phú miền Đông Nam bộ giữa thế kỷ 19. Ban đầu nó là sự kết hợp giữa các dòng gốm Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông. Về sau, trong từng nét gốm Lái Thiêu còn thể hiện sự giao thoa văn hóa nhuần nhị của người Hoa và người Việt .


I.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Làng gốm Lái Thiêu-Bình Dương (???) Hững Định
Cách TP.HCM chừng 25 km, làng gốm Bình Dương bắt đầu từ xã Bình An (Bình Dương) qua Bình Hoà kéo dài đến suốt Hưng Định. Nơi đây tập trung hơn 100 lò gốm lớn nhỏ, khác nhau.
Thời gian : tháng 6/2013
Đối Tượng : Làng nghề truyền thống gốm Lái Thiêu tương đối lâu đời ở Bình Dương

I.3 Một số khái niệm.
Phân loại Gốm
Ngày nay, người ta hay dùng lẫn lộn gốm sứ chung nhau, cho nên cần thiết phải có một sự phân loại.

Gốm thô( La Poterie ) hiểu theo nghĩa hẹp của từ là những bình thông dụng được làm bằng đất sét dẻo đã qua xử lý và nung nóng , không phủ nhựa dẻo, không tráng men( Trường hợp Gốm Bàu Trúc, hoặc những gốm nhẹ lửa, đôt bằng trấu )
Gốm Tinh ( La ceramique)  theo tiếng Hy Lạp cổ :kéramos:  “ đất sét”, “ đất của thợ gốm “. Chỉ toàn bộ các đồ vật được làm bằng đất nung ( dưới dạng bột ẩm hoặc đàn hồi ) trải qua một sự chuyển hóa không thuận nghịch trong suốt quá trình nung ở nhiệt độ cao hoặc tương đối cao.( Gốm màu, Gốm có phủ men , Sành  )
Sành ( là một dạng của gốm với thành phần chủ yếu là đất sét, được phủ một lớp men ( hoặc men trong ) làm từ thiếc , làm cho nó có độ sắc và bóng. Nó là một trong những ký thuật chung và cổ xưa nhất trong tất cả các kỹ thuật được sử dụng trong nghề gốm. Nó không chắc , không cứng, xốp hơn sứ
Sứ ( La porcelaine ) La một loại gốm mịn, trong mờ, được sản xuất bằng khuôn đúc, thường được phủ một lớp men trắng. Đó là sản phẩm hoàn hảo nhất trong các đồ gốm. Đất sét làm sứ cần có cao-lanh, từ gốc Hán là Gaoling, còn có nghĩa là  “ đồi cao”, là  một mỏ nằm ở  Jingdezhen, tỉnh Giang Tây, quê hương của nghề sứ .

Phạm vi bài tiểu luận này nhắc đến gốm cổ truyền xuất hiện trong làng nghề truyền thống Lái Thiêu, hầu hết thuộc loại gốm tinh, ( La céramique )và sành.
Ngoài ra, Về quản lý của chính quyền khi thống kê , quy hoạch , kế hoạch sản xuất chung của địa phương thường gộp chung cả gốm sứ tiêu dùng và gốm sứ xây dựng 
Trong giới  nghiên cứu khi nói đến gốm sứ , mặc nhiên hiểu rằng đó là gốm sứ tiêu dùng , chứ không đề cập đến gốm sứ xây dựng( gạch, ngói ) .


















Phần II. Nội dung

Chương I. Lịch sử Gốm Lái Thiêu.
Qua những đợt khai quật Chùa Dốc( 1976-1979 ), đã hình thành nhiều bộ sưu tập hiện vật có giá trị lịch sử và khoa học rất lớn. Các công cụ sản xuất bằng đá, gốm, đồng,… biểu hiện cho một đỉnh cao phát triển của thời tiền sử vùng Đông Nam Bộ , được cho có niên đại từ 2.500 – 3.000 năm cách ngày nay. Nghề gốm đã trở thành một chuyên mốn thực sự vào thời ấy


I.1. Người Hoa ở Bình Dương.
Làng nghề gốm Lái Thiêu: Theo nhà văn, nhà nghiên cứu Sơn Nam và qua ý kiến của một số nghệ nhân gốm sứ thì “nghề gốm du nhập vào Lái Thiêu do những người Hoa theo chân các đoàn thuyền buôn vào, hoặc đi qua bằng đường bộ từ Móng Cái sang vùng Gia Định lập nghiệp.” Trong số lưu dân người Hoa đó có người vốn là thợ lò gốm, thấy vùng Lái Thiêu thuận lợi cho việc sản xuất gốm nên họ định cư và mở lò sản xuất gốm [ Nguyễn Phan Quang: 1999],
Có nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhà Nam Bộ học Sơn Nam cho rằng Gốm Lái Thiêu có tiền thân là Gốm Cây Mai- Sài Gòn ( Xóm Lò Gốm ). Cách Lái Thiêu 15 km.
 Một luồng tư tưởng khác , theo gia phả của dòng họ làm gốm lâu đời ở đây, chủ lò Kiến Xuân ông Vương Thế Hùng cho biết,  lò gốm của ông ta được truyền nối từ đời ông cố nội tên Vương Tổ từ Phước Kiến sang đây lập nghiệp đến nay đã trải qua trên 140 năm.

Huỳnh Ngọc Trảng cũng có đặt ra mấy vấn đề để tự giải đáp, theo ông Trảng thì gốm Cây Mai thuộc trường phái “công nghệ miếu vũ” của người Quảng Đông, chủ yếu sản xuất đồ trang trí chùa chiền và nội thất, trong khi gốm Bình Dương có ba trường phái Phước Kiến, Triều Châu và quảng Đông.

Theo từ điển Bách khoa Toàn thư mở, Vùng Bình Dương-Lái Thiêu là nơi định cư của dân triều Minh chạy trốn triều Thanh,phần đông làm nghề gốm…”  cần phải xem xét lại
Theo sử liệu thành văn thì Nhà Nguyễn đã cho Dương Ngạn Địch khai phá Mỹ Tho và Trần Thượng Xuyên đất Đồng Nai , từ đó cho đến khi khởi nghĩa Tây Sơn, Trần Thượng Xuyên chỉ phát triển vùng Cù Lao Phố. Thế hệ ấy được gọi là người – Minh- Hương, khác với thế hệ người Hoa có mặt ở Nam Bộ sau này.
Luận văn tiến sĩ của ông Huỳnh Ngọc Đáng, phần đánh thuế tả rất chi tiết về người Minh- Hương, nhưng không thấy nói gì đến thuế đánh vào các mặt hàng gốm. Một thời gian sau bị đô thị hoá, nhóm thợ này kéo lên Biên Hoà, lập nên làng gốm Tân Vạn cho đến bây giờ.
Theo ông Trảng thì chưa có cơ sở để chứng minh, bởi những mảnh vụn của đồ gốm mà ông tìm thấy ở Cù Lao Phố hầu hết là đồ đất nung có xuất xứ từ làng gốm Phổ Khánh, Quảng Ngãi, nghĩa là không có dấu vết của gốm Tàu.

Ông Nguyễn Anh Kiệt – nhà sưu tập đồ gốm cổ, hội viên câu lạc bộ cổ vật của Unesco Việt Nam cho rằng : Sau cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, do sự trả thù của Nguyễn Nhạc, Nông Nại Đại Phố bị đốt sạch, cánh hậu duệ của Trần Thượng Xuyên kéo vào Sài Gòn - Chợ Lớn, xây dựng làng gốm Cây Mai. Trong số này chỉ có mỗi ông Trần Lâm là hậu duệ đời thứ bảy của Trần Thượng Xuyên lên Thủ Dầu Một gia nhập với làng gốm Bình Dương
Song, cũng theo ông Kiệt, những nhận định, suy đoán trên cũng chỉ dựa trên cốt men, phong cách của những hiện vật qua nhiều thời kỳ và những câu chuyện truyền miệng của nhiều thế hệ. Thực tế vẫn chưa tìm thấy tài liệu nào chính xác về cuộc hành trình của những làng gốm người Hoa trên vùng đất Nam bộ.
Đến nay, cuộc nghiên cứu vẫn còn tiếp tục. Nhưng dù gì, Sự hiện diện của người Hoa trong Thủ Dầu Một, chắc chắn có một vai trò quan trọng trong hoạt động gốm sứ ở Bình Dương. [1]


I.2. Các trường phái gốm
Ngày nay, qua các hiện vật trưng bày, , ta có thể thấy gốm Lái Thiêu ảnh hướng lớn của người Hoa
 (i) Trường phái Qung (đa s ch lò gc Qung Đông):
Nét nổi bật của trường phái này là việc sử dụng men có nhiều màu sắc, hoa văn trang trí trên sản phẩm đẹp, cách điệu và trang nhã.
            (ii) Trường phái Triều Châu (chủ lò gốc Triều Châu đa số là người Hẹ):
Trường phái này thường sử dụng men màu xanh trắng, có nét vẽ đa dạng phong phú, hoa văn bình dị, các cảnh sơn thủy hữu tình, hình ảnh các con vật như: rồng, gà, cá hoặc cây tre, tùng, bách có tính nghệ thuật gợi cảm.
(iii) Trường phái Phúc Kiến (chủ nhân có gốc Phước Kiến):
Sản phẩm đa số sử dụng men màu nâu đen, da, lượn, hoa văn trang trí đơn giản, cách tạo hình sản phẩm đa dạng, dáng đẹp, sinh động. [ Sơn Nam 1984]

Nếu tính cả địa điểm Gốm Cây Mai- Xóm lò gốm- Sài Gòn, cùng sản phẩm gốm tinh men màu , chuyên về những tượng thì có 4 trường phái khác nhau.
Các làng nghề gốm sứ, tạo việc làm cho hơn mười ngàn lao động trong vùng, ( Nguyễn Phan Quang: 1999)  nhưng người Trung Hoa có sự phân công sắp xếp rất khoa học và hợp lý. Việc phân chia về men và hình dáng như vậy, rất quy củ và chặt chẽ, không “ đụng hàng”, “dìm hàng” nhau, đây cũng là một nét kỷ cương đặc trưng của Người Hoa.



































Chương  II.. Giao lưu và tiếp biến.

II.1 Thiên nhiên ưu đãi

Tuy là gốc bắt nguồn từ Trung Hoa, như đa nói ở trên, song khi vào đến Việt Nam. Thủy thổ khác đi. “ mỗi cây mỗi hoa mỗi nàh mỗi cảnh” . Và những nghệ nhân Trung Hoa ” nhập gia tùy tục”
Một sản phẩm gốm được làm ra phải qua đến 7 khâu đoạn từ tìm kiếm cao lanh, phối liệu, tạo hình sản phẩm, chỉnh sửa rồi nhúng men, phun màu, vẽ dưới men hoặc làm màu trên men và nung chín sản phẩm. Mỗi khâu lại có những công đoạn nhỏ.

Song, nếu “ nhất cận thị, nhị cận giang”  là tiêu chuẩn cho quá trình cư trú dài lâu và phát triển của tộc người, thì Bình Dương có đủ .
Ngoài ra, theo số liệu của tỉnh Bình Dương, lượng sét, cao- lanh tập trung ở Thuận An và Tân Uyên( cũng là hai nơi có nhiều lò gốm nhất)  và rải rác ở những nơi khác là 150 triệu, dự kiến 260 triệu
Củi : Bình Dương xưa vốn là rừng nhiệt đới , rừng dãy và rừng sinh phủ kín. Đó là rừng thuộc Đông nam bộ, nổi tiêng giàu nhất nước về các loài cây gỗ quý. Nam 1930 vẫn còn 91.000n ha
Giao thông : Được bao boc bởi 3 con sông lớn. Sông Sài Gòn, Sông Đồng Nai và sông Bé. Về đường sông chỉ mất 3 giờ từ Thủ Dầu  Một đến Sài Gòn.  Đường bộ có quốc lộ 13 nối với quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và miền Trung, nối vào quốc lộ 1. [ Nguyễn Văn Thủy: 2008]

II.2 Chính Sách “nhu viễn”
“Nhu viễn” ( Từ của Huỳnh Ngọc Đáng- nhu là mềm mỏng khéo léo, viễn là ở xa, người phương xa. )
Đàng trong áp dụng chính sách khuyến khích sự hòa đồng tự nhiên trên cơ sở tạo mọi điều kiện để người Hoa tham gia các hoạt động sáng tạo căn hóa trên vùng đất mới … Trong bối cảnh lịch sử của mình Đàng Trong đã thành công, . Triều Nguyễn cũng thực hiện chính sách tương tự Đàng Trong … Triều Nguyễn cũng có những thành công nhất định
Ngoài thuế thân, Người Hoa còn phải chịu thuế biệt nạp, tức là những thuế khác nhau đánh vào loại hàng hóa mà họ sản suất hay kinh doanh.
Chính sách của các vương triều nhà Nguyễn đối với người Hoa, luận án tiến sĩ, [Huỳnh Ngọc Đáng 2005 ]

Nói chung, việc miễn giảm thuế đối với người Hoa được triều Nguyễn thực hiện khá rộng rãi ở tất cả loại thuế
Lý giải vì sao Triều Nguyễn lại có ưu ái đặc biết ,
do sự câu nệ học… chính quyền nhà Nguyễn trước sau vẫn giữ thái độ thần phục nhà Thanh,2 năm 1 lần tiến cống
…Do tu tưởng trọng nông ức thương đã ra sức chèn ép thương nhân người Việt, để bảo vệ cơ sở kinh tế phong kiến , trong khi lại dùng người Hoa ,(với kinh nghiệm truyền thống sở trường) là buôn bán giao thương, để lợi dụng cả kinh tế lẫn chính trị . “( Trương thị Yến : 1981
“Các hiệu buôn người Hoa cũng thường xuyên trốn và nợ thuế“ [Quốc Sử Quán Triều Nguyễn 1998]

Dân gian còn có câu:
Chiều chiều mượn ngựa ông ĐÔ
Mượn ba chú lính đưa cô tôi về
Đưa về chợ Thủ, bán hũ, bán ve
Ông ĐÔ ở đây rõ ràng là quan chức , chính quyền, mới có ngựa và lính



























II.3 Nhất liệu, nhì nung, tam hình, tứ trí

Các nghệ nhân gốm xưa đã đúc kết như vậy. Tức quan trọng nhất là nguyên liệu, kế đến là khâu nung, sau đó mới đến phần tạo hình và trí trang trí, hoa văn ( có người hiểu nhầm là trí óc ) của nghệ nhân.
Ở đây chủ yếu nêu lên bản chất, thứ tự sự quan trọng, quyết định sự thành bại của sản phẩm, chứ không phải trình tự các công đoạn của quá trình làm ra sản phẩm gốm sứ.

II.3.1 “Nhất liệu”
Trong nghề làm gốm, quan trọng nhất là nguyên liệu. Nguyên liệu là tư liệu sản xuất không thể thiếu, ví như người nông dân không ruộng thì chẳng trồng trọt được gì. Không ngẫu nhiên người ta luôn luôn lấy tên vùng đất để đặt cho tên một dòng gốm.

Vào thời ấy, nguyên liệu chính làm ra lu, khạp, hũ… thường lấy từ 3 - 4 loại đất như: đất đen, đất cát, đất lá bài và bùn dưới sông Sài Gòn trộn lẫn với nhau. [ Võ Đắc Danh :2007]
Vì cơ sở vật chất thời đó thiếu điều kiện bảo quản, chứa đựng, Lái Thiêu sông ngòi chẳng chịt mà lại ít những con sông lớn, phần lớn dùng ghe, thuyền nhỏ, và phương tiện đi lại thuở ấy còn gặp nhiều khó khăn, cản trở, vì thế cũng không thể chở nhiều trong một chuyến.  Cho nên, để có “đất-tươi”, Gần nơi nguyên liệu là yếu tố tiên quyết

Nguyên liệu làm nên “ xương” gốm, mỗi loại xương lại thích ứng với những loại men khác nhau. Ví như mỹ thuật của Châu Âu, trước phải vẽ xương, sau mới đắp thịt. Nếu xương không đúng, thì thịt cũng không chuẩn.
Anh Sẻn cho biết, “khi khởi thuỷ lò chén ở đây, người Phước Kiến làm các loại tô chén màu da lươn, giống như màu lu khạp, tức làm men bằng đá ong trộn với tro trấu và đất bùn, sau này phát hiện ra loại men đục làm từ đá Long Xuyên và đá vôi Kiên Lương kết hợp với men bóng làm từ cát Bình Chuẩn, những năm đầu của thế kỷ 20 mới cho ra đời loại chén tô màu trắng. Sau đó, một số nghệ nhân đã tìm thấy các loại quặng oxyt trong núi đá ở địa phương để làm màu trang trí, bước tiến này đã cho ra đời các loại tô, thố, dĩa …
Tôi cho đó là bước biến đổi quan trọng trong gốm Lái Thiêu vào thời điểm đó.

Ông Nguyễn Anh Kiệt, cho biết “Đá ong đem xay mịn, lọc lấy tinh bột pha với đất bùn và tro trấu, đổ chúng vào nước, đánh lên tạo thành một dung dịch sền sệt tưới đều lên đồ mộc. Sau khi nung chín, dung dịch ấy trở thành men gốm, một loại men chính thống xuất xứ từ đất Bình Dương và chỉ có ở Bình Dương cho đến bây giờ

II.2 Nung

“ Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò”
Đây là thành ngữ chỉ nghề làm gốm sứ. Muốn có sản phẩm tốt phải chú ý ba yếu tố : xương, da, dạc lò. Xương là chất đất để nặn ra sản phẩm, da là chất men dùng tráng mặt ngoài của sản phẩm (có vài chục chất men để tạo màu sắc khác nhau), dạc lò là độ nóng của lửa nung. Cũng có người giải thích dạc lò là hình dáng lò nung. Lò nung phải xây đúng cách để khi nung, độ nóng tỏa đều khắp thì sản phẩm mới đẹp.
Thổ hành kim, ly tác bảo”, Nung là công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất gốm. Và cũng là khâu quan trọng nhất.

Thao nhaø vaên Sôn Nam trong baøi “Laùi Thieâu chieác noâi goám söù Thuû Daàu Moät”(68) coù phaân ra 3 daïng loø:
“- Loø Quaûng
- Loø Tieàu
- Loø Phöôùc kieán.
. Phaân loaïi nhö theá chæ coù yù nghóa vaên hoïc vaø lòch söû nhöng veà kó thuaät thì chöa ñaày ñuû, thieáu chính xaùc. Bôûi leõ neáu caên cöù vaøo nguoàn goác chuû nhaân ñeå ñaët teân loaïi loø, thì coøn coù chuû nhaân laø ngöôøi Hoa goác Nuøng, goác Heï, keå caû ôû giai ñoaïn sau coù chuû loø laø ngöôøi Vieät. Theo giôùi chuyeân moân trong ngheà goám chæ coù hai loaïi loø ñaõ neâu treân ñoù laø loø baàu vaø loø oáng maø thoâi.”
Điển hình lò nung gốm ở Hưng Định có hai loại: lò bao/ lò bầu (còn gọi là lò căn) và lò ống. Nhưng ở đây người ta chủ yếu sử dụng lò ống .

Lò ống/bầu gồm có 3 phần : Căn bầu, thân lò và ống khói. Căn bầu được đào sâu xuống lòng đất 2m. Lò xây bằng gạch chịu lửa, kích thước 27cm ×17cm× 5,5cm.

Nền lò hình thang, lát gạch chịu lửa, có nhiều bậc cấp, mỗi bậc cách nhau 15cm, được làm dốc khoảng 15- 20 độ, cao dần lên phía cuối lò. Lò dài nhất tới70m. Các lò trung bình dài khoảng 30m. Mỗi bên thân lò có từ 3-5 cửa ra vào lò, tuỳ vào độ dài của lò. Lò ống/bầu chỉ có một ống khói duy nhất ở cuối lò, mỗi bên sườn lò có các lỗ chụm củi (tiếp củi). Vòm lò, dày 0,20m, được cuốn bằng gạch lưỡi búa. Vòm làm cao dần từ 2m đến hơn 3m. Lò ống không có các vách ngăn ở thân lò.

Nhiên liệu  dùng nung gốm  là các loại cành củi rừng như cây sếu, cò ke ,quí hương… Còn hiện nay người ta dùng cành cây cao su là chủ yếu.


Về cơ bản, làm một lò gốm là một điều rất khó, ngày trước xây bằng tay, những loại hình không thay đổi nhiều, về dáng vẻ cũng cấu trúc, cách xây dựng.
Ngày nay, cấu trúc lò phức tạp hơn, được chế tạo bằng máy móc, song nguyên lý không đổi. Nhiệt đưa vào lò, bên trong chứa sản phầm, nhiệt độ tăng lên, lượng oxy được kiểm soát, khống chế theo yêu cầu men.

Khi phần trăm thành công của lò củi được cho là không cao và ô nhiễm môi trường, lò ga đã trở nên phổ biến, hầu hết không còn biết tới “hỏa biến” là gì.
Vì đốt bằng củi, chất lượng sảm phẩm không đều, song nó có sự tinh tế riêng, gọi là “ hỏa biến “ . Khi đưa củi vào trong , lửa táp vào mặt những sản phẩm khác nhau, tạo nên những hiệu ứng khác nhau, bụi lò có thể dính vào , và tạo màu sắc khác đi, mà tác giả của nó nằm mơ cũng không thể đoán ra được. Về màu sắc, không bao giờ có “ sinh-đôi”, có khi độc đến nỗi cả đời chưa chắc đã làm lại được cái thứ hai.
Ông Đào Văn Hiến- sở hữu một chiếc ống nhổ màu men xanh ve chai đặc trưng của gốm Lái Thiêu, trong quá trình nung gặp trục trặc nên xuất hiện những vệt nâu đỏ trên thân rất lạ. Một cái lu màu tía bình thường bỗng xuất hiện những vệt khác màu... Những món đồ như thế có tung lắm tiền đặt làm cũng không nghệ nhân nào làm được




II.3 Hình
Gốm Lái Thiêu là dòng gốm sản xuất ra những món đồ gia dụng, không cầu kỳ, kỹ lưỡng như đồ gốm cho chốn cung đình. Thủ công có nét mặn mà riêng với ánh mắt bàn tay đầy xúc cảm .

Văn hóa gốm Trung Quốc với những đồ thiết kế riêng cho một vài người/ dòng họ thuộc hàng quan chức , vua chúa, hay những người giàu có.
Thủ công nghiệp thời ấy là phục vụ cho tầng lớp trên. Việc đánh thuế nặng thủ công nghiệp và thương nghiệp ở Trung Quốc trong lịch sử phong kiến là điều thường thấy, và không khuyến khích thủ công nghiệp ở nhân dân. Cho nên gốm của họ phần lớn là dành cho người sang trọng, bậc quyền quý. Ngay cả những loại gốm dành cho người bình dân ở Lái Thiêu cũng còn sót lại những motif với long, ly, quy, phụng; tùng cúc, trúc, mai…vẽ khắc bên ngoài.

Qua những bộ sưu tập của các nhà cổ vật hầu như ít thấy điều này, ngoại trừ cặp cặp  Đôn con voi thuộc dòng gốm Lái Thiêu là món hàng “độc” nhất vì là hàng đặt , nay đang là sở hữu của nhà sưu tầm/ nghệ nhân nghệ nhân Nguyễn Văn Năm (phường An Thạnh, TX.Thuận An).
Trước Cách Mạng tháng 8/ 1945 ,Sau khi sản phẩm ra lò người chủ lò trực tiếp mang sản phẩm đến giao cho các đầu mỗi ở chợ để bán. Đôi khi các người mua hàng cũng trực tiếp đi thẳng tới các lò gốm để chọn các loại sản phẩm mà mình ưng ý. Điều ấy chứng tỏ rằng việc mua bán ở giai đoạn này chưa phát triển, giống như việc trao đổi hàng hóa tự cung tự cấp thời tiền tư bản . [ Nguyễn Minh Giao : 2000]
Thời ấy Bình Dương vẫn còn rất hoang vu. Người nghèo chưa biết xài các loại gốm tráng men, ông cha ta còn phải đựng cơm, canh bằng chiếc gáo dừa. lối sống kẻ cả của thành thị chưa hiện hữu nhiều, mà chủ yếu vẫn là lối sống dân dã

Nồi gốm đất nung –
Lò Quảng Hòa Xương

Còn Người Trung Quốc với sở trường ngoại thương, rất nhạy cảm với nhu cầu người tiêu dùng,  luôn biết cách làm vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi.
 Thố men màu- Triều Châu

Ở Việt Nam, những chiếc đĩa , bát in hình bát tiên ( 8 vị tiên) trở nên quen thuộc với đa số người bình dân.Năm 2000, miền Bắc vẫn dùng loại đó. Vào năm 2007 khi nhà báo Võ Đắc Danh viết bài về gốm ở Bình Dương, vẫn còn thấy nhiều lò làm sản phẩm này.
Gốm đi sâu vào trong sinh hoạt thường ngày, chọn cho mình một hướng đi mới, phục vụ đông đảo tầng lớp bình dân. Những motif dần được thay thế , con gà, bụi chuối, ruộng vườn … đồ trà, bình tích nước, chén kiểu.vv..vv
Những loại gốm mỹ thuật phần nhiều là những vật dụng dùng trang trí trong nhà và làm cảnh. Độc bình cắm hoa, tượng voi, kỳ lân, chậu , kiểng , đôn, chiếm được cảm tình của khách hàng. [ tr.73 Nguyễn Văn Thủy- Nghề gốm ở BÌnh Dương từ cuối thế kỷ 19 đến năm 1975, luận văn thạc sĩ. Mã số 60.22.54  ]
Ta cũng có thể thấy được những chiếc tách uống trà có nắp, chiếc thố men màu có nắp ở trên, những nồi lẩu, bếp lẩu ( lẩu là từ có xuất phát từ Trung Quốc được đọc “chại” đi ) không phải là văn hóa bình dân Nam bộ.

Mặt khác , gốm Trung Quốc nghệ thuật cao, dùng để chơi và ngắm , khi nghệ thuật phát triển thì độ sử dụng không còn nữa.  
Anh Đặng Quang Tự, một khách hàng đang sinh sống tại xã Tương Bình Hiệp, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nhận xét: “Các sản phẩm gốm sứ của Bình Dương có nhiều mẫu mã hợp với văn hóa của người Việt Nam. Chất lượng gốm cũng không thua kém so với các sản phẩm của các nơi khác nhập vào. Tôi là người rất ưa chuộng các sản phẩm gốm sứ của Bình Dương, nhất là dĩa, chén, ấm, ly uống nước”.

II.1.4 Trí ( Trang Trí )
Hoa văn trang trí trên gốm Lái Thiêu phong phú, nhiều dạng khác nhau, thường theo xu hướng đồ án hóa, đường nét to, thô ( chứ không tinh xảo và nhỏ ) chứng tỏ đã có sự giao thoa mạnh mẽ
Theo ghi nhận của nhà nghiên cứu Lý Lược Tam, len lỏi và có mặt chủ yếu ở những nhà bình dân, nhưng đề tài mỹ thuật với các hình họa trên gốm Lái Thiêu lại có hẳn một dòng mang nội dung  điển tích hàn lâm có nguồn gốc là điển tích bắt nguồn từ Trung Quốc như:
Bát tiên, Thất hiền, Tứ dân tứ thú (ngư, tiều, canh, độc), Long truy (rồng rượt đuổi), Lưỡng long tranh châu, Lưỡng long triều nhật... nhưng cũng không vì thế mà kém trau chuốt, sinh động.
Nội dung tranh vẽ lấy hoa lá làm thể chính, chiếm số lượng nhiều nhất là đồ án hoa mẫu đơn được bố cục chặt chẽ:
Mẫu Đơn với chữ Thọ; Mẫu Đơn Kê (hoa mẫu đơn với gà trống); Mẫu Đơn Điểu (hoa mẫu đơn với chim hút mật). Ngoài ra còn có các đồ án : Qua Quả, Tùng Hạc, Hoa Lan, Hồng Điệp (hoa hồng với bươm bướm), Lý Ngư (cá chép), và vẽ Sơn Thủy phong cảnh hữu tình… Bên cạnh đó, đồ án tranh vẽ cát tường với hình ảnh con Gà trống (Công Kê) đã đưa gốm men nhiều màu Lái Thiêu tiến thêm một bước là ngày càng đi sâu vào tâm thức của người Việt Nam (khoảng những thập niên đầu thế kỷ XX - đến ngày nay). [Nguyễn Thị Hậu: 2007]
Đặc biệt là sự chuyển hóa rất nhẹ nhàng từ những hình tượng của người Trung Hoa sang những hình ảnh gần gụi trong đời sống người Việt. Con chim sáo bên chùm hoa mẫu đơn thường gặp trên mặt gốm được thay dần bằng con chim trao trảo, sau đó hoa mẫu đơn cũng được thay luôn bằng hoa dâm bụt dung dị
Cũng một con gà, nhưng trên chiếc bình này nó là con gà Tàu, trên chiếc ấm kia, nghệ nhân đã biến nó thành một con gà Việt
            Anh Sẻn cho biết - nhãn hiệu con gà, nổi tiếng khắp các làng quê Nam bộ. Nhưng ai là người sáng chế ra hình con gà gáy bên cạnh cây chuối, cho đến bây giờ vẫn chưa có lời giải đáp.


1958 đến 1970, các cơ sở làm gốm sử dụng chủ yếu men của ông Lý Vạn Tường, chủ lò gốm Thạch Dung với các màu xanh , xanh rêu, xanh chới bạc đen nâu [10. 39]
Màu sắc của các loại gốm sứ cũng rất phong phú, đa dạng. Ông Tư Xương, một nghệ nhân gốm lâu đời ở Hưng Định, cho biết: “Do tính đa dạng của sản phẩm gốm nên màu sắc của sản phẩm phụ thuộc theo từng gu riêng của mỗi người. Ví dụ như ở phòng khách, cần sự trẻ trung vui nhộn thì sử dụng thiên về màu mạnh, nổi bật, kích thích thị giác. Nhà bếp thì nhiều người ưa tông xanh đậm, xanh lá sen…".[2]







Tài Liệu Tham Khảo

1.      NGUYỄN PHAN QUANG – Lịch sử Bình Dương qua niêm giám và địa chí Thủ Dầu Một của thực dân Pháp - Thủ Dầu Một đất lảnh chim đậu - 1999
2.      HUỲNH NGỌC ĐÁNG- Chính sách của các vương triều nhà Nguyễn đối với người Hoa, luận án tiến sĩ, 2005  tr.196- 200
3.      TRƯƠNG THỊ YẾN -Tạp chí nghiên cứu lịch sử tháng 3/1981
4.      Quốc Sử Quán Triều Nguyễn 1998 Trung tâm KHXHNV quốc gia,   Viện Sử học, NXB Giáo Dục tr.303
5.      Sài gòn tiếp thị , Số 27 (372) Tuần lễ từ 11.7 đến 18.7.2002
6.      NGUYỄN THỊ HẬU- Đi… và tìm trong Đất, tập kí và tạp bút , NXB Thanh niên, H., 2007- Biên luận về gốm Đông Nam Bộ.
7.      SƠN NAM (1984), Người Bình Dương- Đất Gia Định Xưa , Nxb Thành phố HỒ Chí Minh . tr 119
8.      LINH CÔN ĐÀO, DUY TỲ NGUYỄN - Địa Điểm Khảo Cổ Học Dốc Chùa: Tỉnh Sông Bé- Viện Khoa học xã hội 1993- Lời dẫn
9.      SYLVIE FANCHETTE & NICHOLAS STEDMAN- Khám phá các làng nghề- Mười lộ trình quanh Hà Nội- Một số từ sử dụng trong nghề Gốm- T. 112 – NXB IRD ( Viện nghiên cứu phát triển ) 06/2009.
10. Văn minh vật chất người Việt- PHAN CẨM  THƯỢNG 2012 tr.217
11.  NGUYỄN MINH GIAO - Luận văn Thạc sĩ - Đề tài: Sự phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp gốm sứ Bình Dương từ năm 1986 đên năm 2000 T .24
12. Sở Văn Hóa- Thông Tin Bình Dương (1998), “ Bình Dương 300 năm hình thành và phát triển”-, Kỷ yếu hội thảo Thủ Dầu Một
13. VÕ ĐẮC DANH– Loạt bài phóng sự về làng gốm Bình Dương “ Vĩnh biệt làng gốm cổ “- chuyên đề trên báo Sài Gòn Tiếp Thị.- 9/2007
14. NGUYỄN VĂN THỦY- Nghề gốm ở Bình Dương từ cuối thế kỷ XIX đến 1975 (2008)  Tr.18- 21 ,48-52







[1]. Sở Văn Hóa- Thông Tin Bình Dương (1998), “ Bình Dương 300 năm hình thành và phát triển”-, Kỷ yếu hội thảo Thủ Dầu Một

[2] Sài gòn tiếp thị , Số 27 (372) Tuần lễ từ 11.7 đến 18.7.2002